Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 36/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 26 - 9- 2024

V/v Ly hôn và nuôi con chung.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Chiểu
  2. Ông Nguyễn Văn Cúc

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký TAND huyện Yên Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào- Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, vụ án thụ lý số 123/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 về việc Ly hôn và nuôi con chung. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04/9/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị L, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Xuân Trường, xã Yên Tâm, huyện Yên Định, Thanh Hóa

2. Bị đơn: Anh Tống Văn P, sinh năm: 1987 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/7/2024 và quá trình giải quyết nguyên đơn chị Trương Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Tống Văn P xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện. Đăng ký kết hôn ngày 08/01/2015 tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng nhau trong quan điểm sống. Mỗi khi bàn bạc công việc làm ăn thường không đi đến thống nhất, vì vậy mâu thuẫn vợ chồng ngày trở nên trầm trọng hơn. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình phân tích khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không hòa hợp được. Vợ chồng sống đã sống ly thân từ ngày 13/7/2023 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn anh P.

Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là Tống Huyền M, sinh ngày 24/10/2015 và Tống Huyền A, sinh ngày 28/8/2017. Hiện nay cả hai cháu đang ở với anh P. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng giao cả hai con cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không không có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con cùng anh P.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại bản tự khai ngày 26/8/2024, anh Tống Văn Phương trình B như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trương Thị L kết hôn do hai bên tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đăng ký kết hôn ngày 08/01/2015 tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn, kinh doanh. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình phân tích khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không hòa hợp được. Vợ chồng sống đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị L làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, anh xác định không còn tình cảm nên đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung là Tống Huyền M, sinh ngày 24/10/2015 và Tống Huyền A, sinh ngày 28/8/2017. Hiện nay các con đang ở với anh. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai con. Không yêu cầu chị L cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị L, anh P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị L. Về hôn nhân xử cho chị Trương Thị L được ly hôn anh Tống Văn P. Về con chung giao cháu Tống Huyền M, sinh ngày 24/10/2015 và Tống Huyền A, sinh ngày 28/8/2017 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung đương sự thống nhất tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị Trương Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

{1} Về tố tụng:

1.1. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn giữa chị L và anh P là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Về sự vắng mặt của các đương sự:

Chị L, anh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh P là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

{2} Về nội dung:

- Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh P là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mỗi khi bàn bạc công việc vợ chồng thường không đi đến thống nhất. Đó là nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không thể hàn gắn được.

Đánh giá thực trạng mâu thuẫn cuộc sống vợ chồng: Chị L và anh P sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh P mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Hiện tại đời sống chung đã chấm dứt. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Anh P cũng đồng ý ly hôn với chị L. Như vậy, hai bên đã thống nhất ly hôn, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn là phù hợp.

- Về con chung: Chị L và anh P có 02 con chung là Tống Huyền M, sinh ngày 24/10/2015 và Tống Huyền A, sinh ngày 28/8/2017. Nguyện vọng của chị L giao cả hai con cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. HĐXX xét thấy quan điểm của hai bên về nuôi con là thống nhất nên chấp nhận cho anh P trực tiếp nuôi cả con là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chị L và anh P không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị L và anh P không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

- Về công nợ chung: Chị L và anh P tự thỏa thuận phân chia công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét

Về án phí: Chị L khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng: Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 228, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
  • - Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị L.
  • Về Hôn nhân: Chấp nhận chị Trương Thị L được ly hôn anh Tống Văn P.
  • Về con chung: Chị L và anh P có 02 con chung. Giao cháu Tống Huyền M, sinh ngày 24/10/2015 và Tống Huyền A, sinh ngày 28/8/2017 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung anh P không yêu cầu.
  • Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  • Về Tài sản chung: Các đương sự không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về Công nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận phân chia công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về án phí: Chị Trương Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị L đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên lai thu số 0003593 ngày 25/7/2024. Chấp nhận L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • Quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho chị L và anh P trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Thắng

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - UBND xã Yên Tâm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ – ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger