|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9-2024
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Chí Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Trần Thanh Minh.
2. Ông Trương Quang Trung.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Thơ – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1993; NTT: Khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Đinh Vĩnh A, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 6 năm 2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H trình bày:
1. Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu bà và ông Đinh Vĩnh A sống chung như vợ chồng từ năm 2020, đến ngày 07/4/2023 đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không đồng thuận, ông A không chăm lo cho gia đình và có hành vi đánh bà.
Bà H thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông A.
2. Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Đinh Ngọc N, sinh ngày: 09/10/2022, giới tính: nữ. Bà là người trực tiếp nuôi con khi vợ chồng sống ly thân, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Ngọc N.
3. Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ người khác hoặc người khác nợ vợ chồng.
Bị đơn ông Đinh Vĩnh A vắng mặt nên không có văn bản trình bày.
Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định; Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
- - Về hôn nhân: Vợ chồng bà H, ông A có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà H nhận thấy mối quan hệ giữa bà và ông A nhiều mâu thuẫn dẫn đến gây gổ với nhau, ông A có hành vi đánh đập bà và không quan tâm, chăm sóc gia đình, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ. Hơn nữa, bà H và ông A đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2024 đến nay nên yêu cầu của bà H về việc ly hôn với ông A là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- - Về con chung: Bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đinh Ngọc N, sinh ngày: 13/9/2022, giới tính: nữ là có cơ sở chấp nhận vì: từ khi vợ chồng sống ly thân thì bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và cháu N dưới 36 tháng tuổi cần để mẹ chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo vật chất lẫn tinh thần và ông A không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Do đó, yêu cầu của bà H có căn cứ chấp nhận theo Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- - Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa, bà H không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tổ tụng:
Bà Nguyễn Ngọc H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đinh Vĩnh A và nuôi con chung, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Đinh Vĩnh An cư trú tại khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đinh Vĩnh A không đến, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông A nhưng ông A vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông A theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- [1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Ngọc H với ông Đinh Vĩnh A là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, ông A không chăm lo cho gia đình và có hành vi đánh bà H. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H với ông A đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
-
[2] Về con chung: Bà H và ông A có một con chung tên Đinh Ngọc N, sinh ngày: 09/10/2022, giới tính: nữ. Bà H có nguyện vọng yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Xét thấy: Bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngọc N đảm bảo tốt về mọi mặt, bà H có thu nhập ổn định. Đồng thời, cháu N dưới 36 tháng tuổi nên giao cho bà H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ngọc N là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- [3] Về cấp dưỡng và tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
- [4] Về nợ chung: Không có nên không đề cập đến.
- [5] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng là có căn cứ chấp nhận.
-
[6] Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm;
Ông Đinh Vĩnh A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc H được ly hôn với ông Đinh Vĩnh A.
-
Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Đinh Ngọc N, sinh ngày: 09/10/2022, giới tính: nữ.
Ông Đinh Vĩnh A có nghĩa vụ giao con chung Đinh Ngọc N, sinh ngày: 09/10/2022, giới tính: nữ cho bà H nuôi dưỡng, chăm sóc.
-
Ông Đinh Vĩnh A không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở ông A thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
-
Về án phí:
Bà Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí án hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002109 ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Đinh Vĩnh A không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Dũng |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Ngọc H yêu cầu ly hôn và nuôi con với ông Đinh Vĩnh A
