|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/12/2024. Về việc “Ly hôn và giải quyết vấn đề con chung” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Luân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thời .
2. Bà Nguyễn Thị Chinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn và giải quyết vấn đề con chung”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Khắc B, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Bà Lương Thị M, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Ông B có mặt, bà M vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Khắc B bà Lương Thị M chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014 đến năm 2015 và ly thân cho đến năm 2020 thì trở lại chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng chung sống tại xã N, huyện Đ, thời gian chung sống hòa thuận được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông B trình bày do vợ chồng không có sự tôn trọng lẫn nhau, kinh tế gia đình khó khăn và nhiều vấn đề khác trong đời sống không thể hòa hợp. Đến tháng 6/2023 có xảy ra cãi vả và ly thân cho đến nay, ông B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Bị đơn bà Lương Thị M thừa nhận quá trình chung sống và kết hôn như ông B trình bày là đúng. Bà M cho rằng vợ chồng không tránh khỏi mâu thuẫn nhưng cũng không có gì trầm trọng. Mâu thuẫn là có thật nhưng lý do ông B ly hôn là không chính đáng vì sau khi ly thân ông B có quan hệ với người phụ nữ khác và cũng vì vấn đề này nên ông B mới ly thân và xin ly hôn. Bà M nhận thấy vợ chồng cũng không có khả năng hàn gắn lại được nhưng chỉ đồng ý ly hôn khi ông B khắc phục được việc ngoại tình, vì điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống và thể diện của bà, hơn nữa theo quy định pháp luật thì khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân ông B không được có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác.
Về con chung: Các bên xác nhận có 01 con chung là Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 16/01/2020. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn các bên đồng ý giao con chung cho bà Lương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, các bên không tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Các bên xác nhận không có tài sản chung.
Về nợ chung: Các bên xác nhận không có nợ chung.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Khắc B giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với bà Lương Thị M, đồng ý giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000đ/ tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn đối với bị đơn; giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Khắc B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn bà Lương Thị M, sinh năm 1985; thường trú tại: Thôn P, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung cần giải quyết của vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Khắc B và bà Lương Thị M tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức hòa giải tạo điều kiện để các bên hàn gắn nhưng không có kết quả, bị đơn bà Lương Thị M cũng thừa nhận vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Bà M cho rằng ông B sau khi ly thân có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và yêu cầu ông B phải chấm dứt mối quan hệ này trước khi ly hôn. Tuy nhiên, bà M không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh ông B có quan hệ bất chính nên Tòa án không có cơ sở để xem xét. Xét lời trình bày của các đương sự phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương, đã có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa ông B và bà M đã trầm trọng đến mức không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và giải quyết vấn đề con chung đối với bị đơn.
[2.2] Về con chung: Từ khi vợ chồng ly thân thì bà M trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến nay. Xét điều kiện về mọi mặt và để đảm bảo sự ổn định, phát triển bình thường của con chung cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 16/01/2020 cho bà Lương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Ông B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000đ/ 01 tháng là phù hợp với lợi ích của con chung nên cần ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác nhận không có tài sản chung, nợ chung và không có tranh chấp gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; các Điều 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn và giải quyết vấn đề con chung của ông Nguyễn Khắc B.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Khắc B được ly hôn bà Lương Thị M.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 16/01/2020 cho bà Lương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Ông B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000đ/ 01 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2024 cho đến khi con chung thành niên.
- Về án phí: Ông Nguyễn Khắc B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung; được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002447 ngày 22/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Ông B còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Khắc B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/12/2024). Bà Lương Thị M vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Võ Thời |
Võ Thành Luân |
|
Nguyễn Thị Chinh |
|
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Võ Thành Luân |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn và giải quyết vấn đề con chung
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và giải quyết vấn đề con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Khắc B được ly hôn bà Lương Thị M. 2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 16/01/2020 cho bà Lương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Ông B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000đ/ 01 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2024 cho đến khi con chung thành niên.
