|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 19-9-2024
V/v ly hôn, chia tài sản chung và
nợ chung khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Mỹ Hương;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Bùi Phương Hợp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Ông Phan Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 15/2024/HNGĐ-PT ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 10/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 14/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ: số F đường P, khu D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1983; địa chỉ: phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương – là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 15/6/2024; ông H có mặt, ông P vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Phan Thị U, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: số nhà G (số C) đường N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Hồ Thị X, sinh năm 1948; địa chỉ: số I Đại lộ B, tổ A, khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2002; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Quốc T trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U tự nguyện tiến đến hôn nhân. Ông T và bà U đăng ký kết hôn ngày 30/10/2002 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B (nay là phường T, thành phố B), tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc tại tổ A, khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng năm 2017, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống về tình cảm và tài sản. Ông T và bà U không còn sống chung với nhau từ năm 2019, bà U về nhà cha mẹ ruột tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống còn ông T sinh sống cùng con trai tên Nguyễn Quốc T1 tại tổ A, khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương. Ông T xác định không còn sống chung với bà U từ lâu, không còn tình cảm và không muốn hàn gắn lại tình cảm với bà U. Ông T nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Phan Thị U.
Về con chung: Ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U có 01 con chung tên Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2002. Hiện tại, con chung đã đủ 18 tuổi nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với yêu cầu phản tố của bà Phan Thị U thì ông T có ý kiến như sau:
- Bà Phan Thị U xác định bà U và ông T có tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích khoảng 2.211m² thuộc thửa đất số 807, 809 tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương (Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565758, số vào sổ H03906 ngày 23/6/2008). Ông T không đồng ý chia quyền sử dụng đất vì Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565758, số vào sổ H03906 ngày 23/6/2008 cho cá nhân ông T, không liên quan đến bà U.
- Đối với các tài sản gắn liền với các thửa đất số 807, 809 tờ bản đồ số 11 gồm: 01 căn nhà cấp 4; 01 chuồng gà; tường gạch xây không tô; 18 cây huỳnh đường; 04 cây tràm; 07 cây sanh; 80 cây tre; 60 cây trúc; 02 cây mít và 02 cây
khế. Ông T thống nhất các tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên ông T đồng ý chia theo quy định của pháp luật.
Về nợ chung: Bà Hồ Thị X có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U liên đới trả số tiền vay 212.000.000 đồng, trong đó: tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 01/4/2023 đến ngày 01/9/2023 là 12.000.000 đồng. Ông T đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà X: Ông T và bà U, mỗi người phải có nghĩa vụ trả ½ số nợ cho bà X.
Theo đơn phản tố, quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị U và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà U trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà U thống nhất với phần trình bày của ông T về quá trình kết hôn chung sống. Hiện tại, bà U cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà U đồng ý ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Phan Thị U và ông Nguyễn Quốc T có 01 con chung tên Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2002. Do con chung đã đủ 18 tuổi nên bà U không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: trong quá trình chung sống, bà Phan Thị U xác định bà U và ông T có tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích khoảng 2.211m² thuộc thửa đất số 807, 809 tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương (Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565758, số vào sổ H03906 ngày 23/6/2008). Ngoài ra, bà U và ông T còn có tài sản chung gắn liền với thửa đất số 807, 809 tờ bản đồ số 11 gồm: 01 căn nhà cấp 4; 01 chuồng gà; tường gạch xây không tô; 18 cây huỳnh đường; 04 cây tràm; 07 cây sanh; 80 cây tre; 60 cây trúc; 02 cây mít và 02 cây khế. Bà U yêu cầu được chia ½ tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Về nợ chung: Bà Hồ Thị X yêu cầu Tòa án buộc bà Phan Thị U và ông Nguyễn Quốc T liên đới trả số tiền vay 212.000.000 đồng gồm: tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 01/4/2023 đến ngày 01/9/2023 là 12.000.000 đồng. Bà U đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà X, trong đó ông T và bà U, mỗi người trả ½ số nợ.
Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 01/6/2023, bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Hồ Thị X trình bày:
Ngày 01/4/2023, bà Hồ Thị X cho ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất do các bên thỏa thuận. Để đảm bảo khoản vay, ông T và bà U đã giao cho bà X 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565758, số vào sổ H03906 ngày 23/6/2008 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp ngày 23/6/2008 cho ông Nguyễn Quốc T. Hai bên thỏa thuận khi ông T và bà U trả hết số nợ thì bà X sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện tại, bà X được biết ông T và bà U đang nộp đơn ly hôn và chia tài sản chung khi ly hôn nên bà X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T
và bà U liên đới trả số tiền vay 212.000.000 đồng (tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 01/4/2023 đến ngày 01/9/2023 là 12.000.000 đồng).
Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quốc T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc T yêu cầu ly hôn với bà Phan Thị U thì ông Nguyễn Quốc T1 không có ý kiến.
Về tài sản chung: Nguồn gốc thửa đất bà Phan Thị U yêu cầu Tòa án giải quyết là do bà Ngô Thị Q tặng cho ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U vào năm 2008. Tuy bà Phan Thị U không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà U có công sức đóng góp nên ông T1 thống nhất với yêu cầu bà của U.
Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 10/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc thuận tình ly hôn, về con chung như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U thuận tình ly hôn.
Về con chung: Ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U có 01 con chung tên Nguyễn Quốc T1 đã đủ 18 tuổi nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phan Thị U về việc chia tài sản chung là quyền sử dụng đất có diện tích 2.211m² (qua đo đạc thực tế có diện tích 2.148m²) thuộc các thửa đất số 807, 809 tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương và các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà cấp 4; 01 chuồng gà; tường gạch xây không tô; 18 cây huỳnh đường; 04 cây tràm; 07 cây sanh; 80 cây tre; 60 cây trúc; 02 cây mít và 02 cây khế).
2.1. Chia cho bà Phan Thị U quyền sử dụng đất diện tích 1.027,5m² (trong đó 333,7m² đất nông nghiệp (gồm 317m² thuộc thửa đất số 809; 16,7m² thuộc thửa đất số 807); 593,9m² thuộc hành lang bảo vệ suối và 99,9m² thuộc hành lang bảo vệ đường bộ), (ký hiệu: A), tài sản gắn liền đất gồm: 01 chuồng gà diện tích 232,2m² (ký hiệu: F); 13 cây huỳnh đường; 05 cây sanh; 80 cây tre; 60 cây trúc; 02 cây mít; 01 cây khế. Tổng trị giá tài sản được nhận là 7.734.430.000 đồng (bảy tỷ bảy trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm ba mươi đồng).
2.2 Chia cho ông Nguyễn Quốc T quyền sử dụng đất có diện tích 1.120,5m² (trong đó 888,8m² đất nông nghiệp (gồm 579m² thuộc thửa đất số 809 và 309,8m² thuộc thửa đất số 807); 31m² hành lang bảo vệ suối và 200,7m² hành lang an toàn đường bộ), (ký hiệu B).
Tài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 105m² (ký hiệu: C); phần quán cơm (nhà tạm, mái che) diện tích 257,9m² (ký hiệu: D); tường gạch xây không tô diện tích 140,346m² (ký hiệu: E); cây trồng trên đất gồm: 05
cây huỳnh đường; 04 cây tràm; 02 cây sanh; 01 cây khế. Tổng trị giá tài sản được nhận là 8.708.000.000 đồng (tám tỷ bảy trăm lẻ tám triệu đồng).
(có sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
2.3. Bà Phan Thị U phải bồi hoàn cho ông Nguyễn Quốc T giá trị chênh lệch về tài sản là 1.136.080.970 đồng (một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu không trăm tám mươi nghìn chín trăm bảy mươi đồng).
Kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã B thu hồi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565758, số vào sổ H03906 cấp ngày 23/6/2008 cho ông Nguyễn Quốc T.
Ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để lập thủ tục đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất được giao theo quy định.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hồ Thị X đối với ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U.
Buộc ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U liên đới trả cho bà Hồ Thị X số tiền 217.777.778 đồng (hai trăm mười bảy triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng), trong đó: tiền gốc: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) và tiền lãi 17.777.778 đồng (mười bảy triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng).
Buộc bà Hồ Thị X trả lại cho ông Nguyễn Quốc T và bà Phan Thị U 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565758, số vào sổ H03906 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 23/6/2008 cho ông Nguyễn Quốc T.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05 tháng 3 năm 2024, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 807, 809 tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương là tài sản riêng của ông T.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn có yêu cầu xem xét, thẩm định và định giá lại tài sản tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, như sau:
Ông Nguyễn Quốc T và ông Nguyễn Quốc T1 được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng chung, cụ thể ông T được quyền sở hữu 30%, ông T1 được quyền sở hữu 70% đối với diện tích đất 471,2m², gồm 258,9m² thuộc một phần thửa đất số 809 và 134,9m² thuộc một phần thửa đất số 807, trong đó có 77,4m² hành lang bảo vệ đường bộ thuộc tờ bản đồ số 11) và tài sản gắn liền với đất là 01 căn nhà cấp 4 diện tích 105m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Ông Nguyễn Quốc T được toàn quyền quản lý, sử dụng đối với quyền sử dụng đất diện tích 1.676,8m² gồm diện tích đất 637,1m² thuộc một phần thửa đất số 809 và diện tích 191,8m² thuộc một phần thửa đất số 807 (trong đó có 223m² hành lang an toàn đường bộ, 624,9m² hành lang bảo vệ suối) thuộc tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Ông Nguyễn Quốc T có trách nhiệm thanh toán cho bà Phan Thị U số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.
Các tài sản khác gắn liền với đất bao gồm chuồng gà, nhà tạm, mái che và cây trồng trên đất: các bên không tranh chấp.
Về án phí: Các bên phải chịu theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Quốc T tự nguyện chịu toàn bộ án phí đối với phần tài sản được quyền sở hữu chung với ông Nguyễn Quốc T1.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị X được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, ông Nguyễn Quốc T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[1.3] Theo đơn kháng cáo ngày 05/3/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T kháng cáo yêu cầu Tòa án xét xử lại phần chia tài sản chung là 02 thửa đất số 807, 809 tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; các phần khác của bản án sơ thẩm nguyên đơn không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:
[2.1] Về tài sản:
[2.1.1] Giao cho ông Nguyễn Quốc T và ông Nguyễn Quốc T1 được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng chung, cụ thể ông T được quyền sở hữu 30%, ông T1 được quyền sở hữu 70% đối với diện tích đất 471,2m², gồm 258,9m² thuộc một phần thửa đất số 809 và 134,9m² thuộc một phần thửa đất số 807, trong đó có 77,4m² hành lang bảo vệ đường bộ thuộc tờ bản đồ số 11) và tài sản gắn liền với đất là 01 căn nhà cấp 4 diện tích 105m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu A và A').
[2.1.2] Giao cho ông Nguyễn Quốc T được toàn quyền quản lý, sử dụng đối với quyền sử dụng đất diện tích 1.676,8m2, gồm diện tích đất 637,1m² thuộc một phần thửa đất số 809 và diện tích 191,8m² thuộc một phần thửa đất số 807 (trong đó có 223m² hành lang an toàn đường bộ, 624,9m² hành lang bảo vệ suối) thuộc tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B và B').
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
[2.1.3] Ông Nguyễn Quốc T có trách nhiệm thanh toán cho bà Phan Thị U số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.
[2.1.4] Các tài sản khác gắn liền với đất gồm chuồng gà, nhà tạm, mái che và cây trồng trên đất: các bên không tranh chấp.
[3] Tại đơn trình bày ý kiến ngày 13/9/2024, ông Nguyễn Quốc T1 đồng ý ông T1 và ông T có quyền sở hữu, quản lý, sử dụng chung theo phần đối với diện tích đất 471,2m2, gồm 258,9m² thuộc một phần thửa đất số 809 và 134,9m² thuộc một phần thửa đất số 807, trong đó có 77,4m² hành lang bảo vệ đường bộ thuộc tờ bản đồ số 11) và tài sản gắn liền với đất là 01 căn nhà cấp 4 diện tích 105m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
[4] Về án phí: Các bên phải chịu theo quy định pháp luật. Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T tự nguyện chịu án phí đối với phần tài sản sở hữu chung với ông Nguyễn Quốc T1.
[5] Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.
[8] Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc, định giá tại cấp phúc thẩm là 1.300.000 đồng. Nguyên đơn và bị đơn mỗi người phải chịu 50% chi phí tố tụng; nguyên đơn (ông T) đã tạm ứng 1.300.000 đồng, do đó, buộc bà Phan Thị U phải thanh toán lại cho ông T 50% chi phí tố tụng tương đương 650.000 (sáu trăm năm mươi nghìn) đồng.
[9] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
[10] Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 148; Điều 300; khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T.
2. Sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương về phần tài sản chung:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể:
2.1. Giao cho ông Nguyễn Quốc T và ông Nguyễn Quốc T1 được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng chung, cụ thể ông T được quyền sở hữu 30%, ông T1 được quyền sở hữu 70% đối với diện tích đất 471,2m², gồm diện tích đất 258,9m² thuộc một phần thửa đất số 809 và 134,9m² thuộc một phần thửa đất số 807, trong đó có 77,4m² hành lang bảo vệ đường bộ thuộc tờ bản đồ số 11) và tài sản gắn liền với đất là 01 căn nhà cấp 4 diện tích 105m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu A và A').
2.2. Giao cho ông Nguyễn Quốc T được toàn quyền quản lý, sử dụng đối với quyền sử dụng đất diện tích 1.676,8m2, gồm diện tích đất 637,1m² thuộc một phần thửa đất số 809 và diện tích 191,8m² thuộc một phần thửa đất số 807 (trong đó có 223m² hành lang an toàn đường bộ, 624,9m² hành lang bảo vệ suối) thuộc tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B và B').
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
2.3. Buộc ông Nguyễn Quốc T phải thanh toán cho bà Phan Thị U số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.4. Các tài sản khác gắn liền với đất bao gồm chuồng gà, nhà tạm, mái che và cây trồng trên đất các bên không tranh chấp.
Ông Nguyễn Quốc T và ông Nguyễn Quốc T1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án này.
2.5. Buộc bà Hồ Thị X trả lại cho ông Nguyễn Quốc T và ông Nguyễn Quốc T1 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565758, số vào sổ H03906 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp ngày 23/6/2008 cho ông Nguyễn Quốc T.
2.6. Về án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Quốc T phải chịu 125.612.221 (một trăm hai mươi lăm triệu sáu trăm mười hai nghìn hai trăm hai mươi mốt) đồng tiền án phí sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0001599 ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương. Ông Nguyễn Quốc T còn phải nộp số tiền 125.312.221 đồng (một trăm hai mươi lăm triệu ba trăm mười hai nghìn hai trăm hai mươi mốt đồng).
Bà Phan Thị U phải chịu 72.000.000 (bảy mươi hai triệu) đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 6.875.000 đồng (sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0011022 ngày 06/4/2023. Bà Phan Thị U còn phải nộp số tiền 65.125.000 (sáu mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
3. Các phần khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 10/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại cấp phúc thẩm: 1.300.000 đồng, ông Nguyễn Quốc Thanh T đã tạm ứng số tiền nêu trên. Buộc bà Phan Thị U phải thanh toán lại cho nguyên đơn 50% chi phí tố tụng là 650.000 (sáu trăm năm mươi nghìn) đồng.
5. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000708 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 19/9/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Mai |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc T - Phan Thị U ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn
