Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/DSST

Ngày 08/7/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Uyên và ông Võ Chùm, đều là cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Phương – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáu – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05, 08 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2023/TLST-DS ngày 20/10/2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất; hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 741/2024/QĐST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng N năm 1974; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên Có mặt.

- Bị đơn:

  • + Vợ chồng ông Phạm Hồng T năm 1970 và bà Lê Thị S năm 1970; địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên Có mặt.
  • + Vợ chồng ông Phạm Hồng L năm 1975 và bà Phạm Thị N1 năm 1978; địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lê Thị L1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên Có mặt.
  • + Ông Phạm Hồng T1 sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn P, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên Có mặt.
  • + Bà Phạm Thị Bích D năm 1985; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên Có mặt.
  • + Bà Phạm Thúy Thanh X năm 1988; nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hồng N năm 1974; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên Có mặt.
  • + Bà Lê Thị T1 năm 1937; địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên Vắng mặt ngày 05/7/2024 (Có yêu cầu xét xử vắng mặt); có mặt khi tuyên án ngày 08/7/2024.
  • + Ủy ban nhân dân huyện P– tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  • + Ngân hàng N13 nhánh huyện P đại diện theo văn bản ủy quyền số 37/NHNo.PH ngày 01/7/2024 có: Ông Huỳnh Hoàng V vụ: Trưởng Phòng Khách hàng Ngân hàng N13 nhánh huyện P Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là ông Phạm Hồng N2 trình bày được tóm tắt như sau:

Nguyên cha mẹ ông Phạm Hồng N2 là ông P1 được phần đất do ông bà để lại khoảng 600m², tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, tỉnh Phú Yên. Cha Phạm Hồng T3 chết năm 1992 (nhằm ngày 12/3 âm lịch năm 1992). Cha Phạm Hồng T3 chết không để lại di chúc. Cha mẹ có tất cả 04 người con gồm: Phạm Hồng Q, Phạm H T, Phạm H N, Phạm Hồng L.

Phạm Hồng Q năm nào không rõ (khoảng năm 1991) nhưng chết trước ông cha Phạm Hồng T3. Ông Q có tất cả 03 người con gồm: P2 (tên cũ Phạm Thị Bích D1), Phạm Hồng T2.

Ngày 19/4/2005, gia đình gồm mẹ Lê Thị T2 và các con cháu gồm: Phạm Hồng T3 vợ Lê Thị S1 (tên khác là Đ), Phạm Hồng N3 vợ Lê Thị L1, Phạm Hồng L2 vợ Phạm Thị N1, cháu trai là Phạm Hồng T2 (con Phạm Hồng Q1) nhất lập “Tờ thuận phân đất đai – vườn - nhà ở” có ký xác nhận của mẹ Lê Thị T2, các anh em là P3 hưởng phần của Phạm Hồng Q2, những người chứng kiến gồm Phạm N H, Võ Văn V1. Theo đó, phân chia phần đất cha mẹ cho các con thành 04 phần, đánh số thứ tự từ lô 1 đến lô 4, từ ranh giới hàng rào trên nhà gốc đến giáp hàng rào kề nhà Phạm Ngọc H1 thể:

  • Lô A (vợ Phạm Thị N4) rộng 07m, bao gồm phần nhà và đất;
  • Lô 2, giao Phạm Hồng T2 (con Phạm Hồng Q3) 07m giáp lô 1;
  • Lô 3, giao Phạm Hồng T3 (vợ Lê Thị S1) rộng 08m, giáp với lô 2;
  • Lô 4, giao Phạm Hồng N2 (vợ Lê Thị L1) là phần đất còn lại, tính từ lô 3 đến hàng rào giáp nhà ông Phạm Ngọc H2.

Tuy nhiên, hiện nay sự quản lý, sử dụng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S2, vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 không đúng với vị trí, diện tích được phân chia, bao trùm lên phần đất chia cho Phạm Hồng N, Lê Thị L1 và phần đất chia cho Phạm Hồng T5 đó, ông Phạm Hồng N2 khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Hủy văn bản cho tặng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S1
  • - Hủy văn bản cho tặng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng L bà Phạm Thị N5
  • - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00087, ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cho bà Lê Thị T7 ký biến động sang tên cho vợ chồng ông Phạm Hồng Thà Lê Thị S3 17/7/2019.
  • - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 997584, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00107, ngày 27/6/2016 do UBND huyện P cho vợ chồng ông Phạm Hồng L bà Phạm Thị N5
  • - Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất theo “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005".

* Tại biên bản hòa giải ngày 29/01/2024, bị đơn là vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị L1 trình bày được tóm tắt như sau:

Thống nhất với lời trình bày của ông Phạm Hồng N về nguồn gốc đất, cha mẹ có 04 người con, cha Phạm Hồng T3 chết năm 1992 không để lại di chúc và gia đình thỏa thuận phân chia theo “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005”.

Thừa nhận việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00087, ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cho bà Lê Thị T7 ký biến động sang tên cho vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S3 17/7/2019 là đã cấp đất bao trùm lên phần đất chia cho của ông Phạm Hồng N7 Lê Thị L1 và phần thừa chia cho Phạm Hồng T2.

Hiện nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00087, ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cho bà Lê Thị T7 ký biến động sang tên cho vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S ngày 17/7/2019 đang thế chấp cho Ngân hàng N14 – Chi nhánh P để vay khoản tiền 270.000.000₫ (Hai trăm bảy mươi triệu đồng).

Vợ chồng Phạm Hồng T Lê Thị S4 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00087, ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cho bà Lê Thị T7 ký biến động sang tên cho vợ chồng ông Phạm Hồng Thà Lê Thị S3 17/7/2019.

Vợ chồng ông T bà S5 trách nhiệm trả nợ ngân hàng để xóa đăng ký thế chấp và trả lại phần đất cấp thừa cho bà Lê Thị T8.

Tại phiên tòa, vợ chồng ông Thà S6 bày: Đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Thà S7 như hợp đồng tặng cho của bà Lê Thị T9 vợ chồng ông T bà S8 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị T10 đăng ký biến động sang tên cho vợ chồng ông T bà S9 với diện tích 420,2m², trong đó có 140m² đất ở.

* Bị đơn là vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N5 trình bày được tóm tắt như sau:

Thống nhất với lời trình bày của ông Phạm Hồng N về nguồn gốc đất, cha mẹ có 04 người con, cha Phạm Hồng T3 chết năm 1992 không để lại di chúc và gia đình thỏa thuận phân chia theo “Tờ thuận phân đất đai – vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005”.

Đề nghị Tòa án giải quyết công nhận quyền sử dụng đất đã được phân chia theo “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005.

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho giữa bà Lê Thị T6 với vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CA 997584 ngày 27/6/2016, số vào sổ CH 00107 do UBND huyện P cho vợ chồng ông L3 N1. Vì hợp đồng tặng cho giữa bà T2 và vợ chồng ông L3 N1 là hợp pháp; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L3 N1 cũng hợp pháp; đúng với nội dung phân chia theo “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị L4 bày: Thống nhất với trình bày của ông Phạm Hồng N2.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị T11 bày được tóm tắt như sau:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà để lại cho vợ chồng bà L5 1992, ông T3 chết, không để lại di chúc. Vợ chồng bà T2 ông T3 có tất cả 04 người con: Phạm Hồng Q, Phạm H T, Phạm H N, Phạm Hồng L.

Phạm Hồng Q năm 1991, trước khi ông T3 chết. Ông Q4 tất cả 03 người con, gồm: Phạm Thị Bích D, Phạm Thị Bích D1, Phạm Hồng T1.

Ngày 19/4/2005, bà T2 và các con, cháu gồm: Vợ chồng Phạm Hồng T, Lê Thị S10, chồng Phạm Hồng N, Lê Thị L1, vợ chồng Phạm Hồng L, Phạm Thị N1, cháu trai P4 (con Phạm Hồng Q1) nhất lập tờ thuận phân đất đai vườn nhà ở có ký xác nhận của bà Lê Thị T2, Phạm H3 T, Phạm H3 N, Phạm H3 L, Phạm H3 T1 và những người bà con nội ngoại hai bên chứng kiến là Phạm N2, Phạm V1 H, Võ Văn V1. Theo tờ thuận phân, gia đình đã phân chia thửa đất thành 04 phần:

  • Lô 1, giao Phạm Hồng L, Phạm Thị N1 rộng 07m, bao gồm phần nhà và đất;
  • Lô 2, giao Phạm Hồng T2 (con Phạm Hồng Q3) 07m giáp lô 1;
  • Lô C 08m, giáp lô 2;
  • Lô D giao Phạm Hồng N, Lê Thị L1 là phần đất còn lại, tính từ lô 3 đến hàng rào giáp nhà ông Phạm Ngọc H2.

Tại tờ thuận phân đất đai vườn nhà ở thì thửa số 1 có tồn tại nhà ở do vợ chồng bà T2 ông T3 xây dựng giao cho vợ chồng ông L3 N1 còn các phần đất còn lại (thửa 2,3,4) là đất trống.

Hiện nay, các bên tranh chấp thì đề nghị Tòa án sớm giải quyết theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi của các anh em trong gia đình theo như thỏa thuận phân chia trong tờ thuận phân đất đai vườn nhà ở. Đề nghị Tòa án giao phần nhà đất cho vợ chồng ông L3 N1.

Bản thân bà T2 do vợ chồng ông L, bà N1 chăm sóc, nuôi dưỡng lúc tuổi già cũng như ốm đau bệnh tật, thực hiện việc thờ cúng ông bà tổ tiên và ông Phạm H4 T3.

Bà T2 tuổi già, sức yếu không thể đi lại được nên đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử theo thủ tục vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Bích D2, bà Phạm Thúy T12 X (Bà X1 ông Phạm Hồng N8 diện) trình bày được tóm tắt như sau:

Thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng N9, nghị Tòa án xem xét giải quyết theo như “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005; phần đất giao cho cha Phạm Hồng Q5 giao lại cho 03 con là Phạm Thị Bích D, Phạm Thúy Thanh X2 (tên cũ là Phạm Thị Bích D1, Phạm Hồng T2.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N15 – chi nhánh H7 trình bày được tóm tắt như sau:

Việc vay vốn và thế chấp tài sản của vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S11 hợp pháp. Tại thời điểm thế chấp, quyền sử dụng đất không có tranh chấp; Ngân hàng căn cứ vào giấy chứng nhận đã cấp cho ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S12 cho thế chấp vay vốn và đã đăng ký biến động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện P trình bày: (Không có lời trình bày).

* Kiểm sát viên phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng là đúng quy định.

Về quan điểm đề xuất hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; công nhận quyền sử dụng đất của các đương sự theo “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005; hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S13, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710, số vào sổ CH 00087 ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cho bà Lê Thị T7 ký biến động sang tên cho vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S3 17/7/2019; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 997584, số vào sổ CH 00107, ngày 27/6/2016 do UBND huyện P cho vợ chồng ông Phạm Hồng L bà Phạm Thị N5.

Về án phí và chi phí tố tụng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại các khoản 2, 3, 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên căn cứ Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

[1.2] Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng N3 với vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S14 với thửa đất số 332, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P các đương sự không tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác khi nào có yêu cầu theo quy định pháp luật.

[1.3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị T13 yêu cầu giải quyết vắng mặt; UBND huyện P triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Căn cứ vào các hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P (bút lục 129-171) thì quyền sử dụng đất đang tranh chấp thuộc các thửa 332, 334 tờ bản đồ 31 (đo năm 2016) tọa lạc thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên qua xem xét thẩm định, đo đạc thực tế có diện tích là 668,8m² (bút lục 124). Nguồn gốc đất do vợ chồng bà L6 T3 sử dụng từ trước năm 1975, được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và đã cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số:

  • + CA 997584 ngày 27/6/2016 (thửa đất 326, tờ bản đồ 371-B; thửa mới là 334, tờ bản đồ 31) cho ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N5 do được bà Lê Thị T14 cho quyền sử dụng đất;
  • + CQ 807710 ngày 12/7/2019 (thửa đất số 332, tờ bản đồ 31) cho bà Lê Thị T10 đăng ký biến động sang tên cho ông Phạm Hồng T bà Lê Thị S3 17/7/2019.

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn và bà Lê Thị T15 nguồn gốc đất do ông bà để lại cho vợ chồng bà L6 T3 sử dụng từ trước năm 1975. Năm 1992, ông T3 chết, không để lại di chúc. Vợ chồng bà T2 ông T3 có 04 người con: Phạm Hồng Q6 chết năm 1991, chết trước ông T16, ông Q4 03 người con là Phạm Thị Bích D, Phạm Thúy Thanh X, Phạm Hồng T1), Phạm Hồng T, Phạm H5 N, Phạm Hồng L.

Căn cứ nội dung cung cấp thông tin của UBND thị trấn P xác minh ngày 02/7/2024 thì hai thửa đất 332, 334 tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên có nguồn gốc thửa cũ là 326, tờ bản đồ 371B. Nguồn gốc thửa đất này của bà Lê Thị T7 ký, kê khai và được cân đối khi thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP (năm 1995) với tổng diện tích 690m², trong đó có 400m² đất ở và 290m² đất quy hoạch thổ cư. Diện tích đất này phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Như vậy, đủ cơ sở xác định, nguồn gốc đất tranh chấp do vợ chồng bà T8 ông T3 sử dụng từ trước năm 1975. Sau khi ông T3 chết năm 1992, bà T2 tiếp tục quản lý, sử dụng; năm 1995, nhà nước cân đối cho bà T8.

[2.2] Căn cứ “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005 do bà Lê Thị T17 các con, cháu là Phạm Hồng T, Phạm H5 N, Phạm H5 L, Phạm Hồng T1 (con trai Phạm Hồng Q7) thống phân chia quyền sử dụng đất nêu trên làm 04 phần cho 04 người con của vợ chồng bà Lê Thị T2 ông Phạm H6 T3 trong đó phần của ông Phạm Hồng Q8, ông Phạm Hồng T2.

Như vậy, “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” ngày 19/4/2005 là văn bản mở thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản của ông T16 đồng thời bà T2 cũng phân chia luôn phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng bà T2 ông T3. Kể từ thời điểm này, quyền sử dụng đất tại các thửa 332, 334 tờ bản đồ 31 (đo năm 2016) tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên đã được phân chia, cụ thể:

  • Lô A, giao vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 rộng 07m, bao gồm phần nhà và đất; vợ chồng ông L3 N1 đã quản lý, sử dụng từ khi được phân chia đến nay; qua đo đạc thực tế rộng 07,33m với diện tích 150,8m², có tồn tại một ngôi nhà cấp 4 diện tích 41m².
  • Lô 2, giao con Phạm Hồng Q6 do ông Phạm Hồng T18 diện nhận, rộng 07m giáp lô 1; qua đo đạc thực tế rộng 07m với diện tích 125,8m².
  • Lô 3, giao vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S15 08m, giáp lô 2; vợ chồng ông T4 S đã quản lý, sử dụng từ khi được phân chia đến nay; qua đo đạc thực tế rộng 08m với diện tích 143,4m²; vợ chồng ông T bà S8 xây dựng một ngôi nhà cấp 4 diện tích 116,8m².
  • Lô 4, giao vợ chồng ông Phạm Hồng N7 Lê Thị L1 là phần đất còn lại, tính từ lô 3 đến hàng rào giáp nhà ông Phạm Ngọc H2; qua đo đạc thực tế rộng 11,15m với diện tích 182,2m².

Theo thỏa thuận, phần đất có nhà ở giao cho ông L3 S những người khác nhận phần đất trống còn lại. Nội dung này, phù hợp với lời trình bày của bà Lê Thị T8.

[2.3] Ngày 09/12/2011, bà T2 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 326 tờ bản đồ 371-B (thửa mới là 334, tờ bản đồ 31), diện tích 200m² đất ở đô thị, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên số vào sổ CH 00501. Bà T2 tặng cho vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 theo hợp đồng tặng cho ngày 19/4/2016; vợ chồng ông L3 N1 được UBND huyện P lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 997584 ngày 27/6/2016.

[2.4] Ngày 09/8/2016, bà T2 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 981990 đối với thửa 775, tờ bản đồ tờ bản đồ 371-B, diện tích 100m² đất ở đô thị (là một phần của thửa 332, tờ bản đồ 31, diện tích 420,2m²) tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Bà T2 tặng cho vợ chồng ông Phạm Hồng T bà Lê Thị S16 hồ sơ số 012117.TA.001, đăng ký biến động ngày 07/9/2016. Vợ chồng ông T bà S17 cho lại bà T2 theo hồ sơ số 012117.TA.001, đăng ký biến động ngày 06/6/2019.

Đến ngày 12/7/2019, bà T2 được UBND huyện P cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710 đối với thửa 332, tờ bản đồ tờ bản đồ 31, diện tích 420,2m² (Bao gồm 140m² đất ở và 280,2m² đất trồng cây hàng năm khác) tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Bà T2 tặng cho vợ chồng ông T bà S16 hồ sơ số 019041.TA001 đăng ký biến động ngày 17/7/2019.

[2.5] Như vậy, việc bà T2 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà T2 đối với các thửa 332, 334 (thửa cũ 326, tờ bản đồ 371-B), tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên vào các năm 2011, 2016, 2019 là không đúng với thỏa thuận phân chia di sản, tài sản tại “Tờ thuận phân đất đai - vườn - nhà ở” lập ngày 19/4/2005; bà T2 định đoạt, tặng cho toàn bộ diện tích 668,8m² cho vợ chồng ông L3 N1 và vợ chồng ông T, bà S8 xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Hồng N7 Lê Thị L1 và các ông bà Phạm Thị Bích D, Phạm Thúy Thanh X, Phạm Hồng T1.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 997584 ngày 27/6/2016 do UBND huyện P cho ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710 ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cấp cho bà Lê Thị T7 ký sang tên ông Phạm Hồng T bà Lê Thị S3 17/7/2019 là trái pháp luật do cấp giấy chứng nhận không đúng đối tượng sử dụng đất, thuộc trường hợp phải thu hồi giấy chứng nhận đã cấp theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).

Do đó, các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà T2 với vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 và vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S18 là giao dịch dân sự vô hiệu do trái pháp luật.

[2.6] Từ các phân tích trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Hồng N10 bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng L bà Phạm Thị N5 (thửa đất 326, tờ bản đồ 371-B) theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 19/4/2016 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng T bà Lê Thị S19 (thửa đất 332, tờ bản đồ 31) theo hồ sơ số 019041.TA001 đăng ký biến động ngày 17/7/2019 là giao dịch dân sự vô hiệu do trái pháp luật.

Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 997584 ngày 27/6/2016 do UBND huyện P cho ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710 ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cấp cho bà Lê Thị T7 ký sang tên ông Phạm Hồng T bà Lê Thị S3 17/7/2019.

[3] Căn cứ phân tích tại mục [2.1][2.2], Công nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 đối với diện tích 150,8m², thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên; trong đó đất ở đô thị là 140m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 10,8m².

Công nhận quyền sử dụng đất của các ông bà Phạm Thị Bích D3 Thúy Thanh X, Phạm Hồng T1 đối với diện tích 125,8m² thuộc một phần của các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên trong đó đất ở đô thị là 60m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 65,8m².

Công nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S14 với diện tích 143,4m²; thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên trong đó đất ở đô thị là 140m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 3,4m².

Công nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng N7 Lê Thị L1 đối với diện tích 182,2m² thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên trong đó đất ở đô thị là 60m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 120,2m².

Công nhận lối đi chung của 04 thửa đất nêu trên có diện tích 66,6m² thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Người được công nhận quyền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí bản vẽ, chi phí định giá tài sản là 12.400.000đ; quyền sử dụng đất được chia 4 phần cho bốn nhóm chủ thể nên mỗi nhóm chủ thể phải chịu tương ứng ¼ chi phí tương ứng với số tiền 3.100.000đ. Cụ thể: Vợ chồng ông N7 L1 phải chịu 3.100.000đ, vợ chồng ông T bà S20 chịu 3.100.000đ, vợ chồng ông L3 N1 phải chịu 3.100.000đ, các ông bà Phạm Hồng T1, Phạm Thúy Thanh X, Phạm Thị Bích D phải liên đới chịu 3.100.000₫.

Ông Phạm Hồng N11 nộp tạm ứng 12.400.000đ nên vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S21 hoàn trả cho ông N 3.100.000đ; vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 phải hoàn trả cho ông N 3.100.000đ; các ông bà Phạm Hồng T19 Thúy Thanh X, Phạm Thị Bích D phải hoàn trả cho ông N 3.100.000đ.

[5] Về án phí: Các đương sự tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng không tranh chấp giá trị quyền sử dụng đất nên xác định án phí dân sự không giá ngạch. Nguyên đơn khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn là vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S22, chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000đ.

Hoàn trả cho ông Phạm Hồng N12 tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp có tại biên lai thu án phí lệ phí tòa án số 0003648 ngày 20/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • + Các khoản 2, 3, 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các điều 157, 165, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.
  • + Các điều 117, 122, 123, 158, 163, Điều 219, khoản 2 Điều 221, Điều 407 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • + Điểm d khoản 2 Điều 106, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018);
  • + Điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng N2, tuyên bố:

[1] Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 lập ngày 19/4/2016 (thửa đất 326, tờ bản đồ 371-B) là giao dịch dân sự vô hiệu do trái pháp luật.

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T6 vợ chồng ông Phạm Hồng T bà Lê Thị S16 hồ sơ số 019041.TA001 đăng ký biến động ngày 17/7/2019 (thửa đất 332, tờ bản đồ 31) là giao dịch dân sự vô hiệu do trái pháp luật.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 997584 ngày 27/6/2016 do UBND huyện P cho ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N5;

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710 ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cấp cho bà Lê Thị T7 ký sang tên ông Phạm Hồng T bà Lê Thị S3 17/7/2019.

[2] Công nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 đối với diện tích 150,8m², thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên trong đó đất ở đô thị là 140m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 10,8m².

(Theo tọa độ các điểm khép kín 1, 2, 15, 16, 17, 18 của bản vẽ hiện trạng thửa đất đính kèm).

Công nhận quyền sử dụng đất của các ông bà Phạm Thị Bích D3 Thúy Thanh X, Phạm Hồng T1 đối với diện tích 125,8m² thuộc một phần của các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên trong đó đất ở đô thị là 60m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 65,8m².

(Theo tọa độ các điểm khép kín 2, 3, 13, 14, 15 của bản vẽ hiện trạng thửa đất đính kèm).

Công nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S14 với diện tích 143,4m²; thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên trong đó đất ở đô thị là 140m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 3,39m².

(Theo tọa độ các điểm khép kín 3, 4, 11, 12, 13 của bản vẽ hiện trạng thửa đất đính kèm).

Công nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng N7 Lê Thị L1 đối với diện tích 182,2m² thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên trong đó đất ở đô thị là 60m², đất hàng năm khác nằm trong thửa đất có nhà ở là 120,19m².

(Theo tọa độ các điểm khép kín 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 của bản vẽ hiện trạng thửa đất đính kèm).

Công nhận lối đi chung của 04 thửa đất nêu trên có diện tích 66,6m² thuộc các thửa đất 332, 334, tờ bản đồ 31, tọa lạc khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên

(Theo tọa độ các điểm khép kín 1, 2, 3, 4, 5, 6, 20, 19 của bản vẽ hiện trạng thửa đất đính kèm).

Người được công nhận quyền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Các cá nhân, tổ chức đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 997584 ngày 27/6/2016 do UBND huyện P cho ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 807710 ngày 12/7/2019 do UBND huyện P cấp cho bà Lê Thị T7 ký sang tên ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S ngày 17/7/2019 có trách nhiệm giao nộp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí bản vẽ, chi phí định giá tài sản là 12.400.000₫ (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Vợ chồng ông Phạm Hồng N7 Lê Thị L1 phải chịu 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng), vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S21 chịu 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng), vợ chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 phải chịu 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng), các ông bà Phạm Hồng T19 Thúy Thanh X, Phạm Thị Bích D phải liên đới chịu 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng).

Ông Phạm Hồng N11 nộp tạm ứng 12.400.000₫ (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng) nên vợ chồng ông T bà S20 hoàn trả cho ông N 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng); vợ chồng ông L3 N1 phải hoàn trả cho ông N 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng); các ông bà Phạm Hồng T19 Thúy Thanh X, Phạm Thị Bích D phải hoàn trả cho ông N 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng).

[4] Về án phí: Vợ chồng ông Phạm Hồng T4 Lê Thị S22, chồng ông Phạm Hồng L3 Phạm Thị N1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Hoàn trả cho ông Phạm Hồng N12 tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp có tại biên lai thu án phí lệ phí tòa án số 0003648 ngày 20/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[6] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lý Thơ Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/DSST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 36/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger