Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 367/2024/DS-PT

Ngày: 23-8-2024

V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai

Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 215/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 07 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DSST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 306/2024/QĐ - PT ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Hồ Văn B, sinh năm 1967.
  • Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

  • Bị đơn: Ông Võ Thành G, sinh năm 1972.
  • Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1956.
  • Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Thành G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Hồ Văn B trình bày: Vào năm 2007, ông Võ Thành G nhờ ông B vay dùm số tiền 15.000.000 đồng tại Ngân hàng C để thực hiện dự án trồng hoa màu – Thực hiện nghị quyết của huyện ủy để thực hiện 500ha màu tại xã N. Ngày 23/01/2007, ông B đã vay tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền là 15.000.000 đồng, sau khi vay tiền ông B đã giao toàn bộ số tiền trên cho ông G. Do ông B và ông G là bà con thân tộc nên ông B tin tưởng giao tiền mà không ký kết biên nhận. Ông G không chịu đóng tiền lãi cho Ngân hàng cho đến nay số tiền lãi đã quá cao, nhận được thông báo của Ngân hàng ông B mới biết. Từ khi vay tiền đến nay ông G không trả tiền lãi và tiền vốn cho Ngân hàng cho ông B. Do ông B không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng C khởi kiện đến Tòa án. Ngày 15/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên buộc ông B phải trả vốn và lãi cho Ngân hàng chính sách xã hội tạm tính đến ngày 14/6/2022 là 35.083.696 đồng và tiếp tục chịu lãi suất cho đến khi thanh toán xong nợ. Ông B đã tìm gặp ông Võ Thành G yêu cầu trả tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nhưng cho đến nay ông G vẫn không chịu trả. Ông B có làm đơn gửi đến Ủy ban kiểm tra huyện P yêu cầu ông Võ Thành G trả tiền nợ Ngân hàng, vào ngày 03/8/2022 Ủy ban kiểm tra huyện P đã lập biên bản làm việc giữa ông B và ông G, trong biên bản làm việc ông G đã cam kết đến cuối tháng 8/2022 sẽ trả tiền vốn và lãi cho ông B nhưng cho đến nay ông G vẫn chưa chịu trả tiền cho ông B. Vì sợ số tiền lãi tiếp tục tăng nên ông B đã đi vay mượn bà con, bạn bè, gom tiền để trả cho Ngân hàng. Vào ngày 19/7/2022, ông B đã đến Phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện C để trả nợ gốc vay là 15.000.000 đồng và số tiền lãi là 20.226.286 đồng. Nay ông B yêu cầu ông G trả ông tiền là 35.226.286 đồng.

Bị đơn Võ Thành G trình bày: Năm 2007, xã N có thực hiện dự án 500ha trồng màu nên có vay của Ngân hàng C xã hội số tiền 100.000.000 đồng thông qua hộ dân. Tuy nhiên, dự án bị thua lỗ và không thu hồi vốn được. Ngày 02/12/2011, những người chủ chốt của dự án 500ha trồng màu là đồng chí Nguyễn Hoàng B1, đồng chí Nguyễn Hùng V, đồng chí Lê Hoàng D, đồng chí Võ Thành G, đồng chí Nguyễn Thị Khánh V1 thống nhất “ông H - trả nợ cho ông Hồ Văn B 15.000.000đ....”, “ông G tiếp tục trả nợ cho ông N 10.000.000đ”. Cho nên nghĩa vụ khắc phục hậu quả trong dự án này cho ông B đã phân công cho ông H, ông G không liên quan nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành H trình bày: Thời điểm thực hiện dự án 500ha màu ở xã N, ông H chỉ là cán bộ khuyến nông xã N, có nhiệm vụ là cán bộ kỹ thuật xem xét sâu bệnh; mọi việc điều hành là do ông Võ Thành G quyết định, ông H không hưởng lợi gì trong dự án này và ông G cũng không bàn bạc gì với ông H. Khi thực hiện dự án ông H đã cảnh báo nhiều lần vì biết trồng màu là lấy công làm lời nhưng dự án toàn thuê người thì sẽ không có lời nhưng không được. Nay dự án thất bại bắt ông H bù lỗ thì ông H không đồng ý. Trong biên bản ngày 02/12/2011 ông H không có mặt mà buộc ông H phải trả cho ông Hồ Văn B số tiền 15.000.000 đồng thì ông không đồng ý.

Tại bản án sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã tuyên như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Võ Thành G phải trả cho ông Hồ Văn B số tiền là 35.226.286 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Vào ngày 18/6/2024, bị đơn ông Võ Thành G kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu giải quyết những việc sau: Biên bản ngày 02/12/2011 tại văn phòng UBND huyện P, số tiền nợ phân chia trả như sau: ông G đã trả cho ông N xong còn số tiền của ông Hồ Văn B là do ông H trả. Nay ông G đã thực hiện đúng theo biên bản nêu trên, còn phần bên kiểm tra Đảng làm việc là chung

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị đơn ông Võ Thành G trình bày: Ông G vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vào năm 2007, thực hiện dự án 500ha trồng màu ông G thừa nhận có vận động nhờ các hộ dân vào tổ hợp tác dự án vay dùm 100.000.000 đồng để thuê đất, trong đó có nhờ ông B vay dùm 15.000.000 đồng. Sau khi vay được số tiền trên thì ông B có đưa cho ông G, nhưng do dự án thực hiện không hiệu quả nên ông G hứa đóng lãi và trả nợ gốc cho ngân hàng nhưng không thực hiện được. Theo bản làm việc ngày 02/12/2011, thành viên ban dự án họp có phân công về việc trả tiền cho các hộ dân, phần ông G phải trả cho hộ ông N nên ông G đã thực hiện xong. Đối với hộ ông B thì phân công cho ông Nguyễn Thành H trả nợ cho ông B. Do vậy, đề nghị xem xét ông H mới là người có trách nhiệm trả tiền cho ông B.

Nguyên đơn ông Hồ Văn B trình bày: Ông B chỉ là người làm công trong dự án không phải thành viên góp vốn. Do mối quan hệ bà con với nhau nên G nhờ ông B vay tiền ông tin tưởng nên nhận lời, nay ông đã thanh toán tiền đầy đủ cho ngân hàng nên đề nghị xem xét buộc ông G phải trả lại cho ông B nợ gốc và nợ lãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

  • Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung giải quyết vụ án: Trên cơ sở tải liệu, chứng cứ và lời trình bày của đương sự. Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Võ Thành G thực hiện thủ tục trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện ngày 07/9/2022, ông Hồ Văn B yêu cầu giải quyết buộc ông Võ Thành G trả nợ gốc số tiền 15.000.000 đồng và tiền lãi là 20.226.286 đồng. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “ Tranh chấp đòi lại tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.
  3. Về nội dung kháng cáo của bị đơn ông Võ Thành G, nhận thấy:
    1. Trên cơ sở lời khai của các đương sự xác định vào năm 2007, tại địa bàn xã N, huyện P, thành phố C có thực hiện nghị quyết của huyện ủy về dự án 500ha hoa màu, dự án này cần vay vốn để thực hiện nên thông qua hộ dân nhờ vay giúp tại Ngân hàng C số tiền 100.000.000 đồng. Ông Võ Thành G là thành viên của ban dự án 500ha trồng màu và là bà con với ông Hồ Văn B nên khi ông G nhờ ông B vay tiền của Ngân hàng thì đã tin tưởng nhận lời. Sau khi vay được tiền thì ông B đã đưa toàn bộ số tiền vay 15.000.000đồng cho ông G, thời điểm vay tiền ông G hứa sẽ đóng lãi hàng tháng và trả nợ gốc cho ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế ông G không thực hiện cho đến khi ngân hàng khởi kiện ông B.
    2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành H không đồng ý với biên bản làm việc ngày 02/12/2011, vì thời điểm thực hiện dự án ông H cho rằng chỉ là cán bộ kỹ thuật xem xét sâu bệnh, mọi việc điều hành là do ông Võ Thành G quyết định, ông H không hưởng lợi gì trong dự án và ông G cũng không bàn bạc bất cứ điều gì với ông H. Trong biên bản ngày 02/12/2011, ông H không có mặt và sau đó cũng không biết được việc phân công trả số tiền mà buộc ông H phải trả cho ông Hồ Văn B số tiền 15.000.000 đồng thì ông không đồng ý.
  4. Căn cứ hợp đồng tín dụng ngày 25/02/2007, xác định ông Hồ Văn B đã vay tại Ngân hàng chính sách xã hội thành phố C-Phòng giao dịch huyện C số tiền là 15.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả nợ là 01/2008. Tuy nhiên hết thời hạn, ông B không thanh toán nợ nên ngân hàng đã khởi kiện ông B đến Toà án. Theo Bản án số 19/2022/ DS-ST gày 15/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên buộc ông B phải trả vốn và lãi cho Ngân hàng chính sách xã hội tạm tính đến ngày 14/6/2022 là 35.083.696 đồng và tiếp tục chịu lãi suất cho đến khi thanh toán xong nợ. Căn cứ Phiếu thu ngày 19/7/2022, thể hiện ông B đã tất nợ cho ngân hàng 35.226.286 đồng, trong đó nợ gốc là 15.000.000 đồng và nợ lãi là 20.226.286 đồng. Ông B đã khiếu nại đến Ủy ban kiểm tra huyện. Ngày 03/8/2022, tại biên bản làm việc giữa Ủy ban kiểm tra huyện với ông Võ Thành G và ông Hồ Văn B, ông G thừa nhận có nhận từ ông B số tiền 15.000.000 đồng để bổ sung vốn cho dự án và cam kết sẽ yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông B nhưng cho đến nay vẫn chưa thanh toán. Xét thấy, ông G là người trực tiếp thoả thuận nhờ ông B vay tiền và khi vay được tiền ông B đã giao toàn bộ số tiền vay cho ông B, trong quá trình giải quyết vụ kiện ông G cũng thừa nhận việc này nên cấp cơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B buộc ông G phải thanh toán nợ cho ông B là có căn cứ.
  5. Bị đơn ông Võ Thành G kháng cáo cho rằng trong biên bản làm việc ngày 02/12/2011 có ghi nhận việc “ông H - trả nợ cho ông Hồ Văn B 15.000.000đ....” nên việc khắc phục hậu quả cho ông B không thuộc trách nhiệm của ông G. Tuy nhiên, qua xem xét nội dung biên bản làm việc ngày 02/12/2011 thể hiện dự án thua lỗ nên ban dự án đã họp để phân công thành viên ban dự án khắc phục cho các hộ dân nhưng không có mặt ông H và ông B là những người liên quan trực tiếp đến vụ việc nên không thể hiện ý chí của ông H đồng ý chuyển giao nghĩa vụ khắc phục số tiền trên cho ông B, chỉ là sự thỏa thuận của thành viên ban dự án nên không thể xem đây là cơ sở để buộc ông H có trách nhiệm trả lại tài sản mà ông G đã nhận của ông B. Xét thấy, giữa bị đơn và nguyên đơn không có biên nhận về việc giao nhận tiền nhưng tại biên bản làm ngày 03/8/2022 tại huyện ủy huyện P, bị đơn đã thừa nhận có nhận từ ông B số tiền 15.000.000 đồng để bổ sung vốn cho dự án và cam kết trả vốn và lãi cho ông Hồ Văn B thời gian đến tháng 8/2022. Tại phiên toà, ông G thừa nhận có nhờ ông B vay ngân hàng 15.000.000 đồng và khi vay được tiền ông B đã trực tiếp giao cho ông G số tiền trên. Nhận thấy, ông G là người trực tiếp nhận số tiền 15.000.000đồng của ông B quá trình sử dụng tiền vào dự án thì ông G không đưa cho ông H số tiền trên nên ông G phải có nghĩa vụ trả lại cho ông B nợ gốc và nợ lãi. Do vậy, ông G kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới để xem xét nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Thành G

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn B. Buộc ông Võ Thành G phải trả cho ông Hồ Văn B số tiền là 35.226.286 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông G nộp 1.761.314 đồng. Ông B được nhận lại số tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu 0001519 ngày 07/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Võ Thành G phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006370 ngày 25/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • VKSND TP. Cần Thơ;
  • TAND H.Phong Điền;
  • Chi cục THADS H.Phong Điền;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Bích Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 367/2024/DS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 367/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đòi lại tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger