TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/DS-ST Ngày: 22-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Xuân Thuỷ
Ông Huỳnh Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 528/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2023/QĐXX-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985; Cư trú tại: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Anh Đỗ Thanh T1, sinh năm 1977; cư trú tại: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo uỷ quyền, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Quốc H, sinh năm: 1986; cư trú tại: Ấp S, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Anh Nguyễn Thanh T và anh Đặng Quốc H có mối quan hệ quen biết làm ăn. Trong quá trình làm ăn, anh H đặt vấn đề muốn chuyển nhượng cho anh T phần đất thuộc thửa 25 tờ bản đồ số 44, diện tích 9.993,1m² và phần đất thuộc thửa 24 tờ bản đồ số 44, diện tích 10.063,3m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Do có thời gian làm ăn chung với anh H trong việc mua bán bất động sản nên anh T đồng ý và ký 02 Hợp đồng đặt cọc với anh H; nội dung hợp đồng cụ thể như sau:
1. Đối với phần đất thuộc thửa 25 tờ bản đồ số 44, diện tích 9.993,1m²
- Tổng giá trị chuyển nhượng là 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng.
- Đặt cọc ngày 01-6-2022: 300.000.000 đồng (đã giao nhận tiền xong).
- Số tiền còn lại là 700.000.000 đồng được thực hiện khi hai bên làm thủ tục công chứng chuyển nhượng vào ngày 15-6-2022.
2. Đối với phần đất thuộc thửa 24 tờ bản đồ số 44, diện tích 10.063,3m²
- Tổng giá trị chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng.
- Đặt cọc ngày 01-6-2022: 200.000.000 đồng (đã giao nhận tiền xong).
- Số tiền còn lại là 800.000.000 đồng được thực hiện khi hai bên làm thủ tục công chứng chuyển nhượng vào ngày 15-6-2022.
Đến ngày 17-6-2022, anh H lấy lý do phải bồi thêm cọc cho chủ đất nên yêu cầu anh T phải đưa thêm số tiền là 800.000.000 đồng; do đã ký hợp đồng và đưa trước cho anh H số tiền 500.000.000 đồng nên anh T đồng ý và đưa thêm cho anh H 800.000.000 đồng nữa. Anh H có viết vào mặt sau của Hợp đồng về việc nhận số tiền này. Tổng cộng anh T đã giao cho anh H số tiền là 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng cho 02 Hợp đồng đặt cọc.
Anh T2 nhiều lần liên hệ với anh H đôn đốc làm việc với chủ đất thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng tại văn phòng công chứng nhưng anh H tìm cách né tránh, hứa hẹn nhiều lần và đến nay vẫn không thực hiện.
Nay anh T2 khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên huỷ 02 Hợp đồng đặt cọc ký cùng ngày 01-6-2022; buộc anh Đặng Quốc H trả lại tiền nhận cọc là 1.300.000.000 đồng và phạt cọc là 1.300.000.000 đồng do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc ngày 01-6-2022 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa 25 tờ bản đồ số 44, diện tích 9993,1m² và phần đất thuộc thửa 24 tờ bản đồ số 44, diện tích 10063,3m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 06-9-2023, anh T2 thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu phạt cọc số tiền 1.300.000.000 đồng.
Bị đơn – anh Đặng Quốc H trình bày tại biên bản lấy lời khai ghi ngày 08-9-2023:
Anh quen biết anh Nguyễn Thanh T (tên thường gọi Tuấn A) thông qua sự giới thiệu của anh Nguyễn Xuân L.
Anh không có giao dịch chuyển nhượng với anh Nguyễn Thanh T, chỉ hùn làm ăn với anh Nguyễn Xuân L để đặt cọc mua phần đất ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Anh và anh L hùn vốn mua bán nhiều phần đất nên anh không nhớ đối với phần đất ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là hùn số tiền bao nhiêu, mua phần đất giá trị bao nhiêu. Anh chỉ nhớ anh hùn 800.000.000 đồng, còn anh L hùn 200.000.000 đồng, để mua bán đất ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Trong quá trình làm ăn mua bán với anh L, anh có ký cho anh L nhiều hợp đồng đặt cọc mẫu để trống nội dung. Hợp đồng đặt cọc mà nguyên đơn cung cấp, chữ ký bên bán giống chữ ký, chữ viết của anh nhưng anh không xác định được có phải chữ ký, chữ viết của anh hay không.
Ngoài lời trình bày này, anh H không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh T về việc yêu cầu anh Đặng Quốc H trả số tiền anh H đã nhận của anhTuấn là 1.300.000.000 đồng; ghi nhận anh không yêu cầu phạt cọc.
Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thanh T khởi kiện anh Đặng Quốc H, cư trú tại ấp S, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, yêu cầu huỷ hợp đồng đặt cọc và trả số tiền là 1.300.000.000 đồng. Do đó Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng đặt cọc là đúng theo Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:
[2] Anh T2 xuất trình 02 bản chính Hợp đồng đặt cọc theo mẫu, ghi thông tin họ tên bên bán (bên A) là anh Đặng Quốc H và bên mua (bên B) là anh Nguyễn Thanh T. Nội dung thể hiện anh T và anh H thoả thuận anh H sẽ chuyển nhượng cho anh T quyền sử dụng đất thửa số 24, 25 với giá 1.000.000.000 đồng/ thửa, đặt cọc lần 1 vào ngày 01-6-2022 đối với thửa 24 số tiền là 200.000.000 đồng; đối với thửa 25 số tiền là 300.000.000 đồng. Tổng cộng tiền cọc nhận vào ngày 01-6-2022 là 500.000.000 đồng. Cuối hợp đồng có chữ ký, chữ viết, dấu vân tay mang tên Đặng Quốc H đại diện bên A và có chữ ký, chữ viết, dấu vân tay mang tên Nguyễn Thanh T đại diện bên B.
Mặt sau của Hợp đồng đặt cọc thửa số 25 có ghi “Hôm nay ngày 17-6-2022, tôi Đặng Quốc H có nhận cọc lần II của anh Nguyễn Thanh T số tiền là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng chẵn)”, có chữ ký, chữ viết, dấu vân tay mang tên Đặng Quốc H.
[4] Anh T2 cho rằng đến nay anh H không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã thoả thuận. Tại biên bản lấy lời khai ngày 08-9-2022, anh H phủ nhận, cho rằng không thoả thuận đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh T2 nhưng anh H không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.
Tại Kết luận giám định số 972/1/KL-KTHS ngày 22-02-2024 và Kết luận giám định số 972/KL-KTHS ngày 13-3-2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: chữ ký, chữ viết, dấu vân tay ghi họ tên Đặng Quốc H trên các mẫu cần giám định (trên 02 Hợp đồng đặt cọc do nguyên đơn cung cấp) so với các mẫu so sánh là của cùng một người.
Do đó, có cơ sở kết luận Hợp đồng đặt cọc giữa anh Nguyễn Thanh T và anh Đặng Quốc H thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 25 tờ bản đồ số 44, diện tích 9.993,1m² và thửa số 24 tờ bản đồ số 44, diện tích 10.063,3m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là có thật.
[3] Xét thấy, các bên thoả thuận đặt cọc nhằm mục đích ký kết hợp đồng, thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng anh H không thực hiện là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của hợp đồng nên anh T có quyền yêu cầu huỷ hợp đồng và yêu cầu trả lại tiền cọc theo Điều 328, Điều 423 của Bộ luật Dân sự.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T tuyên huỷ 02 Hợp đồng đặt cọc ngày 01-6-2022 giữa anh T và anh H, buộc anh H trả lại cho anh T số tiền cọc đã nhận là 1.300.000.000 đồng. Ghi nhận anh T không yêu cầu phạt cọc số tiền 1.300.000.000 đồng.
[4] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[5] Về án phí:
- Anh T2 không phải chịu tiền án phí.
- Do yêu cầu khởi kiện của anh T2 được chấp nhận, theo khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng, cụ thể là 36.000.000 đồng + (1.300.000.000 đồng – 800.000.000 đồng) x 3% = 51.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 328, 423, 427 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh T đối với anh Đặng Quốc H về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
- Huỷ Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ghi ngày 01-6-2022, giữa anh Nguyễn Thanh T và anh Đặng Quốc H về việc thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 24, TBĐ số 44, diện tích 10.063,3 m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Huỷ Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không ghi ngày, giữa anh Nguyễn Thanh T và anh Đặng Quốc H về việc thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 25, TBĐ số 44, diện tích 9.993,1 m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Buộc anh Đặng Quốc H có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Thanh T số tiền 1.300.000.000 (một tỷ, ba trăm triệu) đồng. Ghi nhận anh Nguyễn Thanh T không yêu cầu phạt cọc.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Thanh T không phải chịu tiền án phí, hoàn trả cho anh T tiền tạm ứng án phí 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số: 0018862 ngày 07-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Anh Đặng Quốc H phải chịu 51.000.000 (năm mươi mốt triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Các đương sự trong vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Bảo Ngọc |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ANh T khởi kiện anh H trả số tiền cọc là 1.300.000.000 đồng, không yêu cầu phạt cọc
