Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 36/2024/DS-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v : “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                    

Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, Tòa án đã triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ.

Trong quá trình tiến hành tố tụng bị đơn ông Phạm Ngọc L vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt đã được triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có đơn xét xứ vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng D. Cụ thể:

  • Buộc ông Phạm Ngọc L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tổng số tiền còn nợ tính đến ngày tính đến ngày 13/6/2024 là 253.811.048 đồng đồng (Trong đó, nợ gốc 208.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 33.045.323 đồng và lãi quá hạn 12.665.725 đồng).
  • Kể từ ngày 14/6/2024, ông L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
  • Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có đơn yêu cầu Thi hành án nếu ông L không thanh toán số nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: 01 chiếc xe ô tô tải, nhãn hiệu SUZUKI, số loại CARRY, số khung MHYHDC61TMJ914447, số động cơ K15BT1317242, màu trắng, biển số xe 60C-61259, xuất xứ Indonesia, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 036090 do Phòng C Công an tỉnh Đ cấp ngày 28/02/2022 mang tên Phạm Ngọc L.
  • Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Ngọc L phải trả cho Ngân hàng D chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
  • Về án phí: Ông Phạm Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng D số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét thấy bị đơn ông L có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại các 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Ngân hàng D khởi kiện ông L trên cơ sở Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ khoản 3, Điều 26, Điều 30, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” và xác định Ngân hàng D là nguyên đơn, ông L là bị đơn.

[1.3]. Ông Phạm Ngọc L. đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

[1.4]. Các đương sự và đại diện theo ủy quyền của đương sự trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Ông L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy:

[2.1]. Về hình thức của Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng D và ông L (Hợp đồng tín dụng số K.0013/1322 ngày 03/3/2022):

Ngân hàng D là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng và các quy định khác của pháp luật và được phép cấp tín dụng tiêu dùng. Tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng K.0013/1322 ngày 03/3/2022, ông L đã cung cấp các giấy tờ tùy thân, ký tên vào hợp đồng tín dụng từ đó thể hiện việc ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện và người ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó, hợp đồng tín dụng K.0013/1322 ngày 03/3/2022 đã ký kết đảm bảo về mặt hình thức và có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385; Điều 398; Điều 463; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.

[2.2]. Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số K.0013/1322 ngày 03/3/2022, bảng kê tính lãi và lời thừa nhận của ông Phạm Ngọc L có cơ sở xác định Ngân hàng D đã ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay số tiền 227.000.000 đồng. Tạm tính đến ngày 13/6/2024 ông L còn nợ Ngân hàng D số tiền nợ gốc là 208.100.000 đồng.

Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn và khởi kiện là có căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.

[2.3]. Về yêu cầu trả nợ gốc: Xét ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số K.0013/1322 ngày 03/3/2022.

Do đó, Ngân hàng D yêu cầu ông L có nghĩa vụ trả nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số K.0013/1322 ngày 03/3/2022 với số tiền 208.100.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 351; Điều 357; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

[2.4]. Về yêu cầu trả tiền lãi: Số tiền lãi quá hạn Ngân hàng D yêu cầu ông L trả được tính dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên tại Hợp đồng tín dụng số K.0013/1322 ngày 03/3/2022; thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.

Do đó, yêu cầu của Ngân hàng D về việc buộc ông L có nghĩa vụ trả số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn tính đến ngày hòa giải (ngày 13/6/2024) là 33.045.323 đồng lãi trong hạn và 12.665.725 đồng lãi quá hạn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.5]. Xét yêu cầu của Ngân hàng D về việc yêu cầu ông L tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 14/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại Hợp đồng tín dụng số K.0013/1322 ngày 03/3/2022 nên có cơ sở để chấp nhận.

[2.6] Xét ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của Ngân hàng D. Vì vậy, Ngân hàng D yêu cầu Tòa án buộc ông L thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.7]. Đối với yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Ngân hàng D:

Trong trường hợp ông L không trả tiền cho Ngân hàng D, hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng D đề nghị Tòa án tuyên tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp sô K.0013/TC22 ngày 03/3/2022 sẽ được phát mãi thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể 01 chiếc xe ô tô tải, nhãn hiệu SUZUKI, số loại CARRY, số khung MHYHDC61TMJ914447, số động cơ K15BT1317242, màu trắng, biển số xe 60C-61259, xuất xứ Indonesia, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 036090 do Phòng C Công an tỉnh Đ cấp ngày 28/02/2022 mang tên Phạm Ngọc L.

Xét thấy, Hợp đồng thế chấp sô K.0013/TC22 ngày 03/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng D với ông L phù hợp với quy định tại Điều 317, 319 Bộ luật dân sự 2015. Ông L cũng không tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng thế chấp, thừa nhận đã ký hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, có hiệu lực đối với các bên, ông L phải tuân thủ hợp đồng theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự và Điều 7 của Hợp đồng thế chấp nêu trên.

Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng D: Trường hợp ông L không thực hiện trả nợ hoặc trả nợ không hết cho Ngân hàng D, thì Ngân hàng D có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông Phạm Ngọc L có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay, đồng thời chịu tất cả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ kiện trên.

ông Phạm Ngọc L có nghĩa vụ giao lại tài sản đã thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp tài sản cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý tài sản thế chấp.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng.

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng D được chấp nhận nên ông L phải chịu chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Ngân hàng D đã tạm ứng chi phí tố tụng nên ông L phải nộp lại số tiền này để hoàn trả cho Ngân hàng D.

[4]. Về án phí:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 171; Điều 177; Điều 179; Điều 196; Điều 208; Điều 220; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 233; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 317, Điều 319, Điều 401; Điều 351; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự;.
  • Khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
  • Khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  • Luật Phí và Lệ phí năm 2016;
  • Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Buộc ông Phạm Ngọc L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 13/6/2024 là: 253.811.048 đồng đồng (Trong đó, nợ gốc 208.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 33.045.323 đồng và lãi quá hạn 12.665.725 đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 14/6/2024, ông L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có đơn yêu cầu Thi hành án nếu ông L không thanh toán số nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: 01 chiếc xe ô tô tải, nhãn hiệu SUZUKI, số loại CARRY, số khung MHYHDC61TMJ914447, số động cơ K15BT1317242, màu trắng, biển số xe 60C-61259, xuất xứ Indonesia, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 036090 do Phòng C Công an tỉnh Đ cấp ngày 28/02/2022 mang tên Phạm Ngọc L. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông Phạm Ngọc L có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết toàn bộ nợ vay.

Ông Phạm Ngọc L có nghĩa vụ giao lại tài sản đã thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp tài sản cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý tài sản thế chấp.

3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Ngọc L phải hoàn trả lại cho Ngân hàng D chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng.

4. Về án phí:

  • Ông Phạm Ngọc L phải chịu là 12.690.552 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Trả lại cho Ngân hàng D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.652.000 đồng, theo biên lai thu số 0001420 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Ngân hàng D, Ông L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA huyện Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS - LT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 36/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 217/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-DS ngày 28/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-DS ngày 15/7/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger