TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/DS-ST Ngày: 07/6/2024 V/v: "T/c hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Viết Ngoan
- Bà Trần Thúy Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu – kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 131/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 448/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Thanh N – sinh năm: 1976
Địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T – sinh năm: 1977 (có mặt)
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V – sinh năm: 1988 (có mặt)
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2024 và các bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Phan Thanh N có người đại diện theo ủy quyền là Lê Ngọc T trình bày:
Vào khoảng năm 2018, do làm ăn thiếu hụt vốn nên ông Nguyễn Thanh V có đến hỏi mượn tiền của ông Phan Thanh N nhiều lần. Đến ngày 20/4/2022 thì hai bên ngồi lại đối chiếu tổng kết nợ, qua đó ông V thừa nhận có nợ ông N tổng số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng), ông V có ký vào giấy biên nhận nợ và cam kết sẽ đóng lãi cho ông N hàng tháng theo quy định. Tuy nhiên sau đó nhiều lần ông N yêu cầu ông V trả nợ nhưng ông V cứ hứa hẹn, không trả nợ gốc và cũng không đóng lãi lần nào.
Nay ông Phan Thanh N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh V phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng từ ngày 22/4/2022 cho đến ngày 22/4/2024, tính tròn 24 tháng, thành tiền là 107.568.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu, năm trăm sáu mươi tám ngàn đồng). Tổng cộng gốc và lãi yêu cầu thanh toán là 377.568.000 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy triệu, năm trăm sáu mươi tám ngàn đồng). Đồng thời yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến khi xét xử xong vụ án.
Ý kiến bị đơn ông Nguyễn Thanh V theo tờ tự khai, biên bản hòa giải trình bày:
Ông V thừa nhận từ năm 2018 có vay tiền của ông Phan Thanh N nhiều lần, có đóng lãi đầy đủ mỗi tháng 12%, nhưng đến ngày 20/4/2022 ông V không còn khả năng trả nợ nên xin được trả dần. Ông N làm biên nhận nợ rồi kêu ông V ký tên vào mới cho trả dần. Sự thật ông V chỉ có nợ ông N số tiền gốc là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) nhưng không hiểu sao ông N làm biên nhận nợ ghi 270.000.000 đồng rồi kêu ông V ký vào. Ông V thừa nhận có ký tên vào biên nhận nợ ngày 20/4/2022 nhưng do bị ông N ép buộc ký, trong đó bao gồm 120.000.000 đồng là tiền lãi. Cho nên nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông V chỉ đồng ý có trách nhiệm thanh toán cho ông N số nợ gốc 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), không đồng ý trả lãi thêm và xin được trả dần số nợ gốc do hoàn cảnh hiện đang khó khăn, không có khả năng thanh toán một lần.
Tòa án đã phân tích, giải thích và động viên hai bên hòa giải với nhau và các đương sự đã tự nguyện đi đến thống nhất thỏa thuận được với nhau tuy nhiên sau đó ông V có văn bản thay đổi ý kiến đối với biên bản hòa giải thành lập ngày 13/5/2024, không đồng ý theo nội dung đã thỏa thuận do đó vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa hôm nay: Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày. Đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ gốc 270.000.000 đồng và tiền lãi 1,66%/tháng tính từ ngày 20/4/2022 đến nay nhưng chỉ yêu cầu tính tròn 12 tháng do thấy hoàn cảnh bị đơn cũng đang khó khăn, với số tiền lãi là 53.784.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi yêu cầu thanh toán là 323/784.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh V thừa nhận có ký tên trong biên nhận nợ lập ngày 20/4/2022, từ ngày 20/4/2022 đến nay không có đóng lãi thêm cho ông N lần nào. Ông V vẫn giữ nguyên ý kiến cho rằng trong số tiền nợ 270.000.000 đồng thì chỉ có 150.000.000 đồng là nợ gốc, còn lại 120.000.000 đồng là nợ lãi nhưng ông V không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Nay ông V chỉ đồng ý trả gốc và lãi cho nguyên đơn tổng cộng là 200.000.000 đồng, ngoài ra không đồng ý trả thêm theo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng là đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh V phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Phan Thanh N số tiền vay: nợ gốc là 270.000.000 đồng và nợ lãi 12 tháng x 1,66%/tháng, thành tiền là 53.784.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi phải thanh toán là 323/784.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ vay nên đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, bị đơn hiện đang cư trú tại phường T, quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Các đương sự thống nhất xác định trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến tháng 4 năm 2022, ông Nguyễn Thanh V có nhiều lần hỏi vay tiền của ông Phan Thanh N. Ông N có cung cấp được bản chính biên nhận nợ ngày 20/4/2022 (bút lục số 21) để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bị đơn ông V cũng đã thừa nhận có ký tên xác nhận nợ với ông N trong biên nhận nợ lập ngày 20/4/2022. Theo nguyên đơn cho rằng toàn bộ số tiền 270.000.000 đồng này là nợ gốc được xác định sau khi hai bên đã đối chiếu tổng kết nợ. Đối với bị đơn cho rằng trong số tiền 270.000.000 đồng thì chỉ có 150.000.000 đồng là nợ gốc, còn lại 120.000.000 đồng là tiền lãi do ông N cộng nhập chung vào nợ gốc, ngoài ra ông V cho rằng bị ông N ép buộc phải ký tên vào biên nhận nợ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Trường hợp này bị đơn ông V phải có nghĩa vụ chứng minh là trong số nợ 270.000.000 đồng có 120.000.000 đồng tiền lãi tuy nhiên ông V chỉ trình bày miệng chứ không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình trong khi phía nguyên đơn không thừa nhận việc này và nội dung tờ biên nhận nợ cũng không ghi nhận trong đó có 120.000.000 đồng là tiền lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có giải thích về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh và cho ông V thời hạn để cung cấp chứng cứ từ ngày 16/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm nhưng ông V không cung cấp được. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Qua đó có đủ căn cứ kết luận ông V còn nợ ông N số tiền nợ gốc là 270.000.000 đồng.
[2.2] Xét về yêu cầu tính lãi:
Theo nội dung biên nhận nợ ngày 20/4/2022 thì đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi, lãi suất do hai bên thỏa thuận và ông V có cam kết trả lãi cho ông N. Ông N cho rằng từ ngày ký biên nhận nợ 20/4/2022 đến nay thì ông V không có đóng lãi thêm lần nào. Về phía bị đơn ông V thì cho rằng thời gian đầu đóng lãi cho ông N 12%/tháng, sau khi ký biên nhận nợ thì ông N giảm xuống còn 10%/tháng, tuy nhiên ông V cũng chỉ trình bày miệng chứ không xuất trình được giấy tờ hoặc biên lai chuyển tiền lãi cho ông N. Ngoài ra, ông V cho rằng có một số người làm chứng sống lân cận biết về việc ông V có đóng lãi cho ông N nhưng ông V cũng xác định là những người làm chứng này không trực tiếp chứng kiến việc giao nhận tiền lãi giữa ông N và ông V (bút lục số 17) nên lời trình bày của ông V chưa đủ cơ sở để xem xét chấp nhận.
Do đó xét việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng tính từ ngày 20/4/2022 cho đến nay là hơn 25 tháng nhưng chỉ yêu cầu tính tính tròn là 12 tháng, thành tiền là 53.784.000 đồng là phù hợp theo quy định pháp luật tại Điều 468 Bộ luật dân sự về lãi suất vay nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh V phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Phan Thanh N tổng số tiền 323.784.000 đồng, trong đó gồm nợ gốc là 270.000.000 đồng và nợ lãi là 53.784.000 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các Điều 26; 35; 39; 91; 95; 147 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Các Điều 357; 463; 466, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh V phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Phan Thanh N số tiền vay: nợ gốc là 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi 53.784.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi bốn ngàn đồng). Vậy tổng số tiền gốc và lãi phải thanh toán là 323.784.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi bốn ngàn đồng).
Về thời gian và phương thức thanh toán: Do Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt giải quyết theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, trường hợp bị đơn chậm trả đối với số tiền trên thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh V phải nộp số tiền 16.189.200 đồng (Mười sáu triệu, một trăm tám mươi chín ngàn, hai trăm đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.
Ông Phan Thanh N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 9.215.000 đồng (Chín triệu, hai trăm mười lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005292 ngày 10/4/2024.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy đinh tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN TRUNG HIẾU |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp nợ vay
