|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE Bản án số: 36/2022/DS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung
Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Thành Phước; 2. Bà Lê Thị Hồng Nhan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo – Thư ký TAND huyện Mỏ Cày Bắc.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham dự phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 18/7/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 124/2021/TLST-DS ngày 11/10/2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-DS ngày 06/7/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Cao Thái S, sinh năm: 1962; Địa chỉ: ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn:
- 1. Bà Lê Thị T2, sinh năm: 1959;
- 2. Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1992;
- 3. Chị Phan Thị Diễm M, sinh năm: 1993;
- Địa chỉ: ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Lê Thị T2: Anh Lê Phước L, sinh năm: 1981; Địa chỉ: ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Phan Thị Diễm M: Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1992; Địa chỉ: ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Tất cả có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/02/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Cao Thái S trình bày:
Ông Nguyễn Văn T có canh tác phần đất giáp ranh với đất của hộ bà Lê Thị T2 ở hướng Bắc, thửa đất số 408, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn T vào ngày 27/8/2020; đất có diện tích 674m2. Nguồn gốc đất do ông T mua lại của của ông Cao Thái S, khi mua đất không có hiệp thương ranh với bà T2. Ranh đất khi mua sử dụng ổn định, lâu dài và nằm trong ranh đất trước đây của ông S, không có tranh chấp. Trụ ranh hàng rào có từ lúc ông S sử dụng đến nay vẫn còn.
Phần đất của bà Lê Thị T2 thuộc thửa số 388, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Lê Thị T2 vào ngày 11/02/2020; diện tích 743,3m2. Nguồn gốc đất này do bà T2 giữ canh thời tập đoàn cấp cho đến nay.
Quá trình sử dụng đất: tháng 9/2020, anh T bơm cát để xây hàng rào, làm nhà nên bít mương nước, bà T2 không có đường nước sử dụng. Khoảng tháng 1 – tháng 2/2021, anh T xây dựng hàng rào nhưng bà T2 không cho xây dựng trên phần đất này dẫn đến tranh chấp.
Nay, anh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T2, K, M trả lại phần đất (theo kết quả đo đạc) có diện tích 21,9m2; chiều ngang một cạnh là 0,78m, một cạnh là 0,18m; chiều dài một cạnh là 39,08m; một cạnh là 38,96m thuộc thửa số 408, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre để anh T xây hàng rào ranh đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 22/02/2021, anh Nguyễn Văn T khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu bà T2, anh K, chị M trả lại phần đất có diện tích 21,9m2. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của anh T, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp quyền sử dụng đất” quy định tại Điều 166 Luật đất đai. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Đối với yêu cầu của anh T yêu cầu bà T2, anh K, chị M trả lại phần đất có diện tích là 21,9m2: Xét thấy, quá trình sử dụng đất các bên trình bày không thống nhất đối với phần đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, căn cứ vào họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 22/12/2021 và các chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Văn T.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 166 Luật đất đai; khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn T. Buộc bà Lê Thị T2, anh Nguyễn Ngọc K và chị Phan Thị Diễm M trả cho anh Nguyễn Văn T phần đất có diện tích 21,9m2 (ký hiệu trên họa đồ là thửa C), thuộc một phần thửa số 408, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp N, xã T1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Ghi nhận anh Nguyễn Văn T tự nguyện tháo dỡ, di dời hàng rào (từ điểm 3 đến điểm 3A của họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 22/12/2021) chiều ngang là 0,17m; chiều cao 2,7m.
- Về án phí và chi phí tố tụng: Bà Lê Thị T2, anh Nguyễn Ngọc K và chị Phan Thị Diễm M phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ và hoàn trả chi phí đo đạc, định giá cho anh T là 5.822.000đ.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện B; - Lưu HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 36/2022/DS-ST ngày 18/07/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 36/2022/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tranh chấp quyền sử dụng đất với Lê Thị T2
