Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN


Bản án số: 36/2020/HNGĐ-PT.
Ngày: 18-12-2020
V/v: Ly hôn, con chung.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế; Bà Dương Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà M Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 12 năm 2020 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2020/TLPT-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn, con chung”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 31/2020/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2020/QĐXX-PT ngày 04 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Vũ Tú M, sinh năm 1990
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990

Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã G, huyện L, tỉnh Hải Dương;

Cùng chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố ĐT, phường B, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

3. Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Vũ Tú M trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn với nhau từ tháng 8 năm 2015, đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã G vào ngày 03/8/2015 (Trước khi đăng ký kết hôn chị và anh T đã chung sống với nhau như vợ chồng và chị đã có thai). Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống tại PY – Thái Nguyên vì cả hai đều làm việc tại công ty Sam sung – PY. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được một thời gian sau đó đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cách sống, cách nhìn nhận vấn đề và cách nuôi dạy con. Trong nhiều lần cãi, nói nhau anh T đã đánh chị, thể hiện nhiều lần có hành vi bạo lực gia đình. Nay chị xác định không thể chung sống cùng anh T được nữa, chị không còn tình cảm với anh T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh T có một con chung là Nguyễn Khánh A, sinh ngày 21/01/2016. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị 2.000.000đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Về thời gian kết hôn và điều kiện kết hôn như chị M trình bày là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng thì thời gian gần đây anh có một lần uống rượu về hai vợ chồng có xảy ra cãi nhau, anh không kiềm chế được có tát chị M một cái, việc chị M nói anh đánh nhiều lần là không đúng mà anh chị có xảy ra cãi nói nhiều lần nhưng sau đó vợ chồng lại bình thường. Quá trình hòa giải anh nhận thấy nhiều lúc anh nóng nảy, không kiềm chế được thái độ của mình, anh xin lỗi chị M mong chị suy nghĩ lại để vợ chồng về đoàn tụ chứ anh không muốn ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị M. Tại phiên Tòa anh xác định không còn tình cảm với chị M nữa nên nhất trí thuận tình ly hôn với chị M.

Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị M có một con chung là Nguyễn Khánh A, sinh ngày 21/01/2016. Nếu trường hợp chị M cương quyết xin ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm công nhân Sam Sung, tổng thu nhập từ 13 triệu đến 15 triệu /tháng. Về chỗ ở hiện nay anh đang thuê trọ.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có.

Với nội dung trên, tại bản án số 31/2020/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Vũ Tú M đối với anh Nguyễn Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyễn Văn T làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2.] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Văn T đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh T và chị M trong quá trình chung sống có một con chung là Nguyễn Khánh A, sinh ngày 21/01/2016. Theo các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của anh T và chị M tại phiên tòa thể hiện: Anh T và chị M đều có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Nguyễn Khánh A. Cháu A sinh ngày 21/01/2016, tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm được hơn 4 tuổi, còn nhỏ, do vậy rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế, điều kiện chăm sóc, giáo dục con chung của các bên và giao cho chị M trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Khánh A cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Văn T. Sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 31/2020/HNGĐ -ST ngày 18 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Vũ Tú M và anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Vũ Tú M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Khánh A, sinh ngày 21/01/2016 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T vì chị M không yêu cầu.
  4. Về tài sản chung: Chị Vũ Vũ Tú M và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra việc giải quyết.
  5. Về nợ chung: Không có.
  6. Về án phí: Anh T không phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm được hoàn lại 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND TX PY;
- THADS TX PY;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Lê Thị Hồng Phương
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ


Nguyễn Văn Quế - Dương Thị Liên
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA


Lê Thị Hồng Phương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2020/HNGĐ-PT ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 36/2020/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị M và anh T ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger