|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 359/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Ông Trần Ngọc Đăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 370/2023/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 381/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh N, sinh năm 1985;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
Hiện đang cư trú tại: K - W- S.127 Part Mi 13055. Berlin Lichtenberg, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1995;
Địa chỉ cư trú: Xóm D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai (có chứng thực của Đ1 tại Cộng hoà liên bang Đức), nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trọng T tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại T2 tại Frankfurt am M, Cộng hòa liên bang Đ vào ngày 22 tháng 9 năm 2022. Sau khi kết hôn, do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn cãi vã, đời sống chung không hạnh phúc nên vợ chồng không còn sống chung với nhau. Hiện tại, anh T đã về Việt Nam, còn chị vẫn đang ở Cộng hòa liên bang Đ. Do mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Thị Thanh N hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hoà liên bang Đ không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho mẹ của chị là bà Trần Thị T1, sinh năm 1957; địa chỉ cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nộp tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị xin xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Trọng T trình bày:
Anh và chị Phạm Thị Thanh N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại T2 tại Frankfurt am M, Cộng hòa liên bang Đ vào ngày 22 tháng 9 năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau thì xảy ra bất đồng quan điểm, mâu thuẫn cãi vã, đời sống chung không hạnh phúc nên vợ chồng không sống chung với nhau nữa. Hiện tại anh đã về Việt Nam, vợ chồng sống ly thân, không còn liên lạc và quan tâm đến nhau nên chị N nộp đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Trọng T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên anh có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Thanh N đang cư trú tại nước Cộng hoà liên bang Đ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh N không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh N hiện đang cư trú tại nước Cộng hoà liên bang Đức, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị N ủy quyền cho mẹ là bà Trần Thị T1, sinh năm 1957; địa chỉ cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu (có chứng thực của Đ1 tại nước Cộng hoà liên bang Đ) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Trọng T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng do bận công việc nên anh đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh N và anh Nguyễn Trọng T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại T2 tại F am Main, Cộng hòa liên bang Đ vào ngày 22 tháng 9 năm 2022, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau thì xảy ra bất đồng quan điểm, mâu thuẫn cãi vã, đời sống chung không hạnh phúc nên vợ chồng không sống chung với nhau nữa. Hiện tại anh T đã về Việt Nam, còn chị N vẫn đang ở nước Cộng hòa liên bang Đ. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị N nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thanh N và anh Nguyễn Trọng T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Phạm Thị Thanh N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Chị Phạm Thị Thanh N và anh Nguyễn Trọng T không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Thanh N và anh Nguyễn Trọng T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Thanh N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh N và anh Nguyễn Trọng T được ly hôn.
- Về con chung: Tòa án không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001305 ngày 09/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Phạm Thị Thanh N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thanh N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Trọng T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND tỉnh Nghệ An;
- - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- - Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Frankfurt am Main, CHLB Đức
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
|
Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 359/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 359/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Phạm Thị Thanh N, Nguyễn Trọng T
