Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 359/2024/HS -ST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Huynh;

Ông Nguyễn Tiến Chuyển;

Thư ký phiên toà: Ông Trần Hưng - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Tuấn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 321/2024TLST-HS ngày 15/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2024/QĐXXST – HS ngày 29/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Cố Thành Đ - Sinh năm: 1994; Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT: Phố N, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông: Cố H; Con bà: Vũ Thị B; Gia đình có bị cáo là con duy nhất; Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bản án số 52 ngày 31/3/2017 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 25/9/2019 (đã được xóa án tích).
  • Quyết định 1227 ngày 22/10/2007 của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp giáo dục tại Trường G (chấp hành xong ngày 01/7/2009).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt).

2. Họ và tên: Hà Thị Hồng N - Sinh năm: 2005;Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Văn T; Con bà: Hoàng Thị H; Gia đình có 03 con, bị cáo là con thứ hai; Chồng, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, tổ công tác Công an phường M nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân về việc tại Phòng 401, số nhà F, ngõ C đường Đ, phường M, quận N có các nam, nữ thanh niên ra vào, mở nhạc mạnh, có biểu hiện vi phạm pháp luật. Qúa trình kiểm tra, phát hiện trong phòng có 02 nam, nữ thanh niên gồm: Cố Thành Đ và Hà Thị Hồng N cùng 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn, trong lòng đĩa có bám dính tinh thể màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng, kích thước 8x5 (cm) và 01 tẩu hút hình tròn, dài khoảng 13 cm được quấn bằng tờ tiền polyme trị giá 10.000 đồng tiền Ngân hàng N1, 01 lọ nhựa bên trong có 01 viên nén màu xám, 01 tẩu hút hình tròn dài khoảng 13 cm được quấn bằng tờ tiền polyme 20.000 đồng tiền Ngân hàng N1. Tại chỗ, Cố Thành Đ khai đây là các dụng cụ dùng để phục vụ việc sử dụng ma túy. Tổ công tác tiến hành thu giữ vật chứng, niêm phong tang vật và đưa Cố Thành Đ, Hà Thị Hồng N về trụ sở cơ quan Công an để điều tra, làm rõ.

Qúa trình bắt giữ rà soát, Cơ quan điều tra còn phát hiện một số đối tượng đã cùng sử dụng ma túy với Cố Thành Đ và Hà Thị Hồng N là: Lèo Anh T1, Trần Anh Đ1, Nguyễn Văn T2, đã mời lên trụ sở Cơ quan điều tra để xác minh làm rõ.

Tiến hành kiểm tra phản ứng với ma túy xác định: Cố Thành Đ, Hà Thị Hồng N, Lèo Minh T3 dương tính với ma túy.

* Thu giữ vật chứng:

  • 01 đĩa sứ màu trắng có bám dính tinh thể màu trắng;
  • 01 thẻ nhựa màu trắng có bám dính tinh thể màu trắng;
  • 01 thẻ nhựa màu đen có bám dính tinh thể màu trắng;
  • 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng tiền Ngân hàng N1 (được cuốn thành tẩu hút có bám dính tinh thể màu trắng);
  • 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng tiền Ngân hàng N1 (được cuốn thành tẩu hút có bám dính tinh thể màu trắng);
  • 01 lọ nhựa màu đỏ;
  • 01 loa nhãn hiệu JBL;
  • 01 đèn nháy màu trắng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS gắn 01 sim;
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 gắn 01 sim.

Tại Bản kết luận giám định số 4796 ngày 29/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H (BL 102A), kết luận:

“1 - Niêm phong ký hiệu mẫu M1 gồm có:

01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 tẩu hút cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000VNĐ đều có dính ma túy loại Ketamine.”

2 - Niêm phong ký hiệu mẫu M2 gồm có:

01 viên nén màu xám là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,568 gam.

01 thẻ nhựa màu đen, 01 tẩu hút cuốn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000VNĐ đều có dính ma túy loại Ketamine.”

Qúa trình điều tra, xác định:

Cố Thành Đ và Hà Thị Hồng N là người yêu của nhau và cùng thuê phòng 401, số nhà F, ngõ C đường Đ, phường M, quận N từ cuối tháng 2/2024, do N là người thuê và đứng tên trong hợp đồng thuê phòng. Đ và N cùng ăn, ở, sinh hoạt chung với nhau tại đây, tiền thuê phòng do Đ trả còn tiền chi tiêu sinh hoạt cả hai cùng nhau chi trả.

Qua mối quan hệ xã hội, Đ quen biết với các đối tượng Trần Anh Đ1 (Sinh năm 1989; Trú tại: Thị trấn B, huyện L, Hòa Bình); Nguyễn Văn T2 (Sinh năm 1994; Trú tại: Thôn E, xã T, huyện B, Hà Nội) và P (không xác định được nhân thân lai lịch) (BL 202 – 225).

Đêm ngày 18/6/2024, Đ đang ở phòng trọ một mình thì Đ1 cùng bạn gái tên H1 (không xác định được nhân thân lai lịch) đến chơi. Đ nói với Đ1 có nửa chỉ ma túy “ke” và bàn với Đ1 góp tiền mua thêm 02 viên ma túy “kẹo” và nửa chỉ ma túy “ke”, sau khi chơi xong hai người sẽ chia đôi số tiền mua ma túy nhưng Đ1 nói không có tiền, chỉ chơi nốt số ma túy “ke” của Đ thì Đ không nói gì nữa. Sau đó, Đ tự gọi qua zalo cho bạn xã hội tên H2 (tài khoản Zalo “Huyện Ọ”) nhờ đặt mua hộ số ma túy trên được báo giá tiền là 1.700.000 đồng và bảo sẽ có người mang đến phòng trọ cho Đ. Khoảng 30 phút sau có một nam thanh niên tên T4 (không xác định được nhân thân lai lịch) đến giao cho Đ 01 túi nilon chứa ma túy “ke” và 02 viên ma túy “kẹo”. Do không còn tiền nên Đ bảo với T4 là sẽ trả tiền sau, T4 đồng ý và đi về. Mua được ma túy, Đ gọi điện cho T2 rủ đến sử dụng ma túy nhưng không nói rõ mà chỉ nói sang uống bia, xem bóng đá thì T2 đồng ý; Lúc này, T2 đang đi cùng bạn gái là Lèo Minh T3 nên đã rủ T3 sang nhà Đ để cùng uống bia, T3 đồng ý. Khi T2 và T3 đến thì Đ chia 02 viên ma túy “kẹo” thành 4 mảnh (mỗi mảnh là 1/2 viên) đưa cho T2, Đ1 sử dụng, Đ cũng tự sử dụng một mảnh bằng cách uống với nước lọc còn lại một mảnh không ai sử dụng nên Đ để ở kệ tủ đầu giường. Sau đó Đ cuốn tẩu hút từ tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng rồi đổ 02 túi ma túy “ke” (một túi ma túy vừa mua, một túi cất giấu trong tủ quần áo trước đó) ra đĩa “xào” rồi cùng cả nhóm sử dụng hết số ma túy “ke” trên bằng cách dùng tẩu hút cuộn hít vào mũi và nằm nghe nhạc. Khoảng 05 giờ ngày 19/6/2024 N đi làm về thì Đ1 và bạn gái của Đ1 đi về; trong phòng chỉ còn Đ, N, T2 và T3. Đến khoảng 08 giờ ngày 19/6/2024, Đ cùng N, T2, T3 đi ăn sáng thì P gọi điện qua ứng dụng T5 cho T2, T2 bật loa ngoài cho cả nhóm cùng nghe. P tâm sự đang buồn và muốn sang chơi với T2 nên T2 bảo P qua phòng trọ của Đ rồi cả nhóm quay lại phòng 401, số nhà F, ngõ C đường Đ. Khoảng 12 giờ ngày 19/6/2024, P đi cùng bạn gái (không xác định được nhân thân lai lịch) đến và được N đón lên phòng. Sau đó, N đi vào nhà vệ sinh. Lúc này, P lấy ra một túi ma túy “ke” và 01 viên ma túy “kẹo” mà P mang theo. P đưa cho Đạt viên ma túy “kẹo” để sử dụng nhưng Đ không sử dụng và bảo P còn 1/2 viên ma túy kẹo trên đầu giường nên P đã lấy 1/2 viên ma túy “kẹo” sử dụng rồi cho viên ma túy “kẹo” do P mang đến vào lọ nhựa để trên kệ tủ đầu giường của Đ. Đ thấy thì không ngăn cản và bảo P sau khi sử dụng ma túy xong thì cầm về (nhưng sau đó P không mang về). P tiếp tục đổ túi ma túy “ke” ra đĩa để “xào ke” bằng thẻ nhựa cứng màu đen, sau khi xào “ke” xong thì P sử dụng đầu tiên rồi đưa cho Đ, T2 sử dụng, sau đó người yêu của P dùng thẻ nhựa màu đen kẻ cho N 01 đường ke và đưa cho N 01 tẩu hút được cuộn tròn từ tờ tiền 20.000 đồng để sử dụng ma túy “ke”, sau khi N sử dụng xong thì người yêu của P tiếp tục kẻ 01 đường ma túy “ke” để đưa cho T3 sử dụng xong thì người yêu của P mới sử dụng. Sau khi cả nhóm sử dụng ma túy xong thì nằm nghe nhạc một lúc rồi đi ngủ. Đến 17 giờ thì Công an phường M vào kiểm tra phát hiện như đã nêu trên (BL 84 – 244).

Về nguồn gốc ma túy:

Đối với túi ma túy “ke” Đ cấu giấu ở nhà trước khi rủ các đối tượng sử dụng, Đ trình bày: Khoảng đầu tháng 6/2024, P liên lạc qua T5 rủ Đ sử dụng ma túy rồi mang theo 01 túi ma túy “ke” qua gặp Đ tại một quán nước ở khu vực ngõ A đường Đ, phường M. Sau đó do có việc gấp phải đi nên P đưa túi ma túy và bảo Đ mang về cất giữ để sử dụng sau. Đ mang túi ma túy về cất vào tủ quần áo trong phòng trọ của Đ và N đến ngày 19/6/2024 thì lấy ra sử dụng (BL 202 – 225).

Đối với viên ma túy “kẹo” cơ quan Công an thu giữ trong phòng của Đ ngày 19/6/2024: Qúa trình điều tra xác định là ma túy của P (người đã cho Đ 01 túi ma túy “ke” nói trên) mang đến cùng với 01 túi ma túy “ke” để mời các đối tượng sử dụng và đã sử dụng hết ma túy “ke”, chỉ còn lại 01 viên ma túy “kẹo” P cất giấu trong lọ nhựa màu hồng để trong phòng của Đ và N không biết còn số ma túy nêu trên (BL 226 – 244).

Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường M rà soát, truy tìm người liên quan, người chứng kiến và rà soát camera thu thập hình ảnh có liên quan đến đối tượng tên “P”, liên quan đến vụ án nhưng không xác định được thông tin có liên quan (BL 110 – 123).

Do Đ và người liên quan Nguyễn Văn T2 không biết thông tin về nhân thân lai lịch của P, không có số điện thoại liên hệ, cả hai chỉ liên hệ với P qua ứng dụng Telegram (hiện nay P đã xóa tài khoản Telegram), các đối tượng khác trong vụ án đều không quen biết với P nên cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục điều tra xử lý (BL 84 – 244).

Đối với số ma túy là 01 chỉ “ke” và 02 viên “kẹo” Đ mua ngày 19/6/2024 để mời các đối tượng sử dụng, Đ trình bày: Số ma túy này Đ liên hệ qua Zalo nhờ người bạn xã hội tên H2 đặt mua hộ và được một người tên T4 mang đến bán cho với giá 1.700.000 đồng nhưng chưa trả tiền, xin nợ trả sau (BL 202 – 225).

Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường M rà soát, truy tìm người liên quan, người chứng kiến và rà soát camera thu thập hình ảnh có liên quan đến vụ án nhưng không xác định được thông tin có liên quan (BL 110 – 123).

Do bị can Đ, bị can N và các đối tượng liên quan đã xác định trong vụ án không biết thông tin về nhân thân lai lịch của Huyện, không có số điện thoại liên hệ (chỉ liên hệ qua tài khoản Zalo, tài liệu thu được không xác định được về nhân thân lai lịch); không biết thông tin về nhân thân lai lịch của T4, không có cách thực liên hệ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục điều tra xử lý (BL 84 – 244).

Qúa trình điều tra xác định một số đối tượng Lèo Minh T3, Trần Anh Đ1, Nguyễn Văn T2 tham gia sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đóng góp tiền, địa điểm hay tham gia giúp sức trong việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của T3, Đ1 và T2 trong vụ án này. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T3, Đ1, T2, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ (BL 245 – 247).

Đối với đối tượng H1 và bạn gái của P: Quá trình điều tra, bị can Cố Thành Đ và bị can Hà Thị Hồng N cùng người liên quan Lèo Minh T3, Nguyễn Văn T2, Trần Anh Đ1 khai chỉ quen biết qua mối quan hệ xã hội, không biết thông tin về nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên, không có số điện thoại liên hệ (chỉ liên hệ qua ứng dụng Zalo). Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường M rà soát, truy tìm người liên quan, người chứng kiến và rà soát camera thu thập hình ảnh có liên quan đến đối tượng H1 và người yêu của P nhưng không xác định được thông tin có liên quan nên cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục điều tra xử lý (BL 84 – 244).

Đối với anh Nguyễn Xuân H3 (Sinh năm 1997; Trú tại: Đ, Đ, Thanh Hóa) – là quản lý nhà trọ số F, ngõ C đường Đ, phường M, quận N: Qúa trình điều tra xác định anh H3 không biết Cố Thành Đ, Hà Thị Hồng N cùng bạn bè sử dụng ma túy ở trong phòng trọ 401, anh H3 cũng không liên quan đến việc sử dụng ma túy của Đ và N. Anh H3 cho biết nhà trọ do anh quản lý cũng không cho phép việc sử dụng ma túy cũng như các hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi nhà trọ (BL 167 – 169).

Cáo trạng số: 315 /CT - VKSNTL ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Cố Thành Đ đã phạm vào tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội danh và khung hình phạt quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Hành vi nêu trên của Hà Thị Hồng N đã phạm vào tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tội danh và khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 ; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Cố Thành Đ mức án từ 08 năm đến 08 năm, 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Cố Thành Đ mức án từ 18 tháng – 21 tháng về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm, 06 tháng đến 10 năm 03 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Hà Thị Hồng N mức án từ 07 năm đến 07 năm, 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 - Bộ Luật tố tụng hình sự 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 niêm phong dán kín, có chữ ký của Cố Thành Đ, cán bộ Công an phường M và giám định viên; 01 phong bì niêm phong dán kín, có chữ ký của Cố Thành Đ, cán bộ Công an phường M và giám định viên; 01 lọ nhựa màu đỏ;
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 30.000đồng; 01 loa nhãn hiệu JBL; 01 đèn nháy màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS gắn 01 sim;
  • Trả lại cho bị cáo Hà Thị Hồng N: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 gắn 01 sim.

Xét các bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn cho các bị cáo hình phạt bổ sung bằng tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi của mình, thành khẩn khai báo nhận tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Tối ngày 18/6/2024, tại Phòng 401, số nhà F, ngõ C đường Đ, phường M, quận N do Cố Thành Đ và Hà Thị Hồng N cùng thuê trọ, Đ đã có hành vi cung cấp địa điểm, cung cấp ma túy, liên hệ mua ma túy, cung cấp công cụ, phương tiện để Nguyễn Văn T2, Trần Anh Đ1, Lèo Minh T3 và bản thân Đ sử dụng trái phép chất ma túy.

Đến khoảng 12 giờ ngày 19/6/2024 sau khi Hà Thị Hồng N đi làm về đã cùng, Cố Thành Đ cung cấp địa điểm, ma túy, công cụ để cùng sử dụng trái phép ma túy với Nguyễn Văn T2, Lèo Minh T3. Ngoài ra, Cố Thành Đ còn có hành vi cất giấu 0,568 gam ma túy MDMA tại nhà cho đối tượng tên P (chưa rõ nhân thân, lai lịch).

Hành vi nêu trên của Cố Thành Đ đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Hành vi nêu trên của Hà Thị Hồng N đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết tác hại của ma túy, song để phục vụ cho nhu cầu của bản thân các bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tuy nhiên xem xét các bị cáo Cố Thành Đ, Hà Thị Hồng N khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên coi đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Cố Thành Đ là người dân tộc Tày là tình tiết được giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Hà Thị Hồng N là dân tộc Mường, gia đình có công với cách mạng là tình tiết được giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét các bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn cho các bị cáo hình phạt bổ sung bằng tiền.

[3] Vật chứng vụ án:

Cần tịch thu tiêu hủy ma túy: 01 niêm phong dán kín, có chữ ký của Cố Thành Đ, cán bộ Công an phường M và giám định viên; 01 phong bì niêm phong dán kín, có chữ ký của Cố Thành Đ, cán bộ Công an phường M và giám định viên; 01 lọ nhựa màu đỏ.

Cần tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng tiền Ngân hàng N1; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng tiền Ngân hàng N1; 01 loa nhãn hiệu JBL; 01 đèn nháy màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS gắn 01 sim.

Trả lại cho bị cáo Hà Thị Hồng N: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 gắn 01 sim.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Cố Thành Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Tuyên bố bị cáo Hà Thị Hồng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm a, b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 - Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

+ Xử phạt bị cáo Cố Thành Đ 08 (tám) năm tù về tội “Tổ Chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2024.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

+ Xử phạt bị cáo Hà Thị Hồng N 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín, có chữ ký của Cố Thành Đ, cán bộ Công an phường M và giám định viên phòng PC09- C và hình dấu con dấu tròn, màu đỏ của Công an phường M; 01 phong bì niêm phong dán kín, có chữ ký của Cố Thành Đ, cán bộ Công an phường M và giám định viên phòng PC09- C và hình dấu con dấu tròn, màu đỏ của Công An phường M; 01 lọ nhựa màu đỏ;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 loa nhãn hiệu JBL; 01 đèn nháy màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng, số I: 357209094089857 gắn 1 sim, máy cũ đã qua sử dụng, mặt kính lưng bị vỡ, không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy, không khởi động được nguồn.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 30.000đồng, theo giấy nộp tiền lập ngày 28 tháng 11 năm 2024.

Trả lại cho bị cáo Hà Thị Hồng N: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11, màu tím, số I: 35665611089857. gắn 1 sim, máy cũ đã qua sử dụng, mặt kính lưng bị vỡ, không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy, máy bị khóa màn hình.

(Tình trạng các vật chứng trên như Biên bản giao nhận vật chứng số 76 ngày 28/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Cố Thành Đ và Hà Thị Hồng N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm ;
  • - Bị cáo;
  • - THAHS;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 359/2024/HS -ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 359/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cố Thành Đ phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bị cáo Hà Thị Hồng N phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger