|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thanh Huế, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 308/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 337/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Ngô Đức A (Tên gọi khác: H)
Sinh ngày 27/01/2002 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; CCCD số: [...]; cấp ngày 11 tháng 12 năm 2023; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Đức T, sinh năm 1976 và bà Lê Thị P, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/7/2024, chuyển tạm giam ngày 03/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có ma túy để sử dụng nên vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/7/2024, Ngô Đức A đã lên mạng xã hội T1 liên hệ với một người (không rõ nhân thân, lại lịch, địa chỉ) đặt mua 04 viên ma túy dạng “kẹo” và 01 túi ma túy dạng “khay” với số tiền 6.200.000 đồng. Sau đó, A đi đến một gốc cây ven đường gần K tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc đường T, phường X, thành phố H lấy ma túy và để tiền lại. Sau khi mua được ma túy, A cất giấu trong người, đi bộ để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi A đi đến bãi đất trống trên đường H, thuộc tổ dân phố I, phường X, thành phố H thì bị Công an phường X phát hiện, bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Ngô Đức A đã khai báo về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
* Vật chứng tạm giữ:
- - 01 túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong có 04 viên nén hình tròn màu vàng.
- - 01 túi ni lông màu trắng viền xanh bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 bản 32GB, số seri: F17SKMTTHG80, số máy: MNCG2J/A.
* Tại bản Kết luận giám định số 537/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 3,3741g (Ba phẩy ba bảy bốn một gam), là ma túy, loại Ketamine.
- 04 (Bốn) viên nén đều có màu vàng gửi giám định có tổng khối lượng là 1,7749g (một phẩy bảy bảy bốn chín gam), là ma túy, loại MDMA.
Sau khi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, bao gồm:
- + 3,2741g (Ba phẩy hai bảy bốn một gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng.
- + 1,6249g (Một phẩy sáu hai bốn chín gam) mẫu bột được nghiền từ 04 viên nén đều có màu vàng.
- + Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tất cả được niêm phong theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 332/CT-VKSTPH ngày 08 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Ngô Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Đức A từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói kèm theo, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 bản 32GB, số seri: F17SKMTTHG80, số máy: MNCG2J/A của Ngô Đức A sử dụng để liên lạc mua ma túy nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo và lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Trên cơ sở lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 27/7/2024, tại bãi đất trống trên đường H, thuộc tổ dân phố I, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Ngô Đức A có hành vi tàng trữ trái phép 3,3741g (Ba phẩy ba bảy bốn một gam) ma túy, loại Ketamine và 1,7749g (một phẩy bảy bảy bốn chín gam) ma túy, loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Ngô Đức A có hành vi tàng trữ trái phép 02 (hai) chất ma túy được quy định tại điểm c và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, áp dụng Nghị định số: 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ về việc hướng dẫn tính tổng khối lượng để xác định khung hình phạt được xác định như sau:
Tỷ lệ 1,7749g (một phẩy bảy bảy bốn chín gam), là ma túy, loại MDMA so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (1,7749 g: 5) × 100 = 35,4%.
Tỷ lệ 3,3741g (Ba phẩy ba bảy bốn một gam), là ma túy, loại Ketamine so với mức tối thiểu quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (3,3741 gam: 20) × 100 = 16,8%.
Như vậy, tổng tỷ lệ của 02 (hai) chất ma túy nêu trên là 35,4% +16,8% = 52,2%, là dưới 100%. Do đó, hành vi của Ngô Đức A đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Ngô Đức A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Cáo trạng số: 332/CT-VKSTPH ngày 08/11/2024, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Ngô Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ông Ngô Đức O và bà Nguyễn Thị L là ông, bà nội của bị cáo là người có công với Cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố H, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm ma túy. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy và hiện đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên bán ma túy cho A, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 3,2741g (Ba phẩy hai bảy bốn một gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng; 1,6249g (Một phẩy sáu hai bốn chín gam) mẫu bột được nghiền từ 04 viên nén đều có màu vàng và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 bản 32GB, số seri: F17SKMTTHG80, số máy: MNCG2J/A thu giữ Ngô Đức A. Quá trình điều tra làm rõ, A sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Đức A (Tên gọi khác: H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên:
Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức A (Tên gọi khác: H) 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 28/7/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 3,2741g (Ba phẩy hai bảy bốn một gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng; 1,6249g (Một phẩy sáu hai bốn chín gam) mẫu bột được nghiền từ 04 viên nén đều có màu vàng và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 bản 32GB, số seri: F17SKMTTHG80, số máy: MNCG2J/A;
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như mô tả trong Quyết định vật chứng số: 211/QĐ-VKSTPH ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế và biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Ngô Đức A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng |
Bản án số 337/2024/QĐXXST-HS ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 337/2024/QĐXXST-HS
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo Ngô Đức An phạm tội " tàng trữ trái phép chất ma túy "
