|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 359/2024/DS-ST Ngày 14-11-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trường,
2. Ông Duyên Văn Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.
Vào ngày 13, 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Thông báo mở phiên toà số 179/TB-TA ngày 02/10/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Thanh D. Sinh năm: 1948 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Bé N – là
Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Trúc L (có mặt).
Địa chỉ: Khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Văn N1, sinh năm 1942 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1948 (có mặt tại phiên toà ngày 13/11/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 14/11/2024).
- Bà Trần Thị D1, sinh năm 1967 (vắng mặt).
- Ông Lê Văn T, sinh năm 1989 (vắng mặt).
- Ông Lê Triệu S1, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Cùng Địa chỉ: Khóm G, TT. S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
6. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Khóm I, TT. T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
7. Ủy ban nhân dân thị trấn S (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm G, TT. S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn ông Phạm Thanh D trình bày:
Về nguồn gốc đất: Cơ quan cấp là Công ty liên doanh T3 cấp năm 1992 có Quyết định, nhưng do bão số 05 mất, ngang 05 mét, dài 20 mét, hiện trạng là 22 mét, vào năm 1992 thì ông D xây dựng nhà cấp 4, có cuốn nền bằng gạch, có chừa lại 0,1 m dài 05m, tổng diện tích là 0,5m², mục đích ông D chừa lại 0,1 để thuận lợi cho việc tô tường, diện tích chiều ngang phía sau hiện tại còn 4,9m, phía bên giáp với bà Nguyễn Thị P ông D cũng chừa từ mí tường quan bà Phước 0,1m dài 22m, phía giáp bên bà Phước do ông cơi nới thêm nên vẫn còn dư.
Thời điểm tranh chấp năm 1998 tranh chấp với ông Lê Văn T1, đã được giải quyết bằng Quyết định của Chủ tịch UBND huyện T và Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh C nhưng ông D không thống nhất và có khiếu nại lên cấp trên.
Ông cất nhà ở ổn định từ trước đến nay, không tranh chấp với ai. Vào khoảng tháng 3 năm 2023, gia đình ông nâng tường phía sau lên tiếp cao khoảng 3m thì gia đình bà L ngăn cản không cho phía ông làm với lý do bà L cho rằng phía ông lấn sang bà L. Bà L đã đập phá phần tường mà gia đình ông xây, tổng cộng 02 lần 15 viên gạch, hư một mẻ xi măng, một ngày công của 2 thợ xây.
Ông Phạm Thanh D yêu cầu bà Huỳnh Thị Trúc L trả lại diện tích đất ngang 0,1m, dài 05m, tổng diện tích đất là 0,5m2 tại khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. yêu cầu bồi thường số tiền là 650.000 đồng vì hành vi đập tài sản.
- Bị đơn Bà Huỳnh Thị Trúc L trình bày:
Bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại phiên hoà giải bà L cung cấp cho Toà án bản photo Quyết định số 322/QĐ-CTUB ngày 13/5/2005 của Chủ tịch UBND huyện T, biên nhận của ông Phạm Thanh D ngày 30/3/2017.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Trần Văn T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn thoả thuận chia đôi phần đất đang tranh chấp. Nguyên đơn tự nguyện chịu ½ chi phí tố tụng, yêu cầu bị đơn trả lại ½ chi phí tố tụng còn lại cho nguyên đơn. Đối với yêu cầu bồi thường số tiền 650.000 đồng, nguyên đơn tự nguyện rút lại yêu cầu này.
Bị đơn không đồng ý chia đôi số tiền chi phí xem xét thẩm định và chi phí đo đạc do nguyên đơn lấn chiếm đất nên nguyên đơn phải chịu khoản chi phí tố tụng này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận việc thoả thuận của đương sự về phần đất tranh chấp, yêu cầu xem xét chia đôi chi phí tố tụng và xem xét việc rút yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn.
2
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa là cơ bản đúng quy định pháp luật về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự. Đương sự có mặt chấp hành đúng quy định, đương sự vắng mặt không có lý do chính đáng là chưa chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án. Qua xem xét lời trình bày của các đương sự và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xác định ông D được quyền quản lý, sử dụng phần diện tích 0.95m² đất toạ lạc tại khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Đình chỉ xét xử đối với việc ông D yêu cầu bà L bồi thường số tiền 650.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Huỳnh Văn N1, bà Trần Thị D1, ông Lê Văn T, ông Lê Triệu S1, UBND thị trấn S vắng mặt, UBND huyện T có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về việc đưa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia vụ án: - Phần đất bà Huỳnh Thị Trúc L đang quản lý sử dụng được cha mẹ bà L là ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Ngọc S tặng cho, được chuyển nhượng từ bà Trần Thị D1 và các con của bà D1 như ông Lê Văn T, ông Lê Triệu S1. Ngoài ra cả phần đất của ông Phạm Thanh D, bà Huỳnh Thị Trúc L chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị trấn S quản lý, do đó Toà án đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Ngọc S, bà Trần Thị D1, ông Lê Văn T, ông Lê Triệu S1, UBND thị trấn S, UBND huyện T vào tham gia tố tụng.
[2] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp ranh đất và yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại về tài sản, nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là đúng theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, phần đất tranh chấp tọa lạc tại huyện T và bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản” là đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
[3.1] Về nguồn gốc đất và diễn biến tranh chấp:
Theo hồ sơ mà UBND huyện T cung cấp:
Trước đây đất này thuộc Công ty Liên doanh T3 quản lý. Năm 1992 ông Phạm Thanh D là công nhân, ông D làm đơn xin mượn đất cất nhà và được lãnh đạo công ty giải quyết cho mượn chiều ngang 5m, chiều dài 15m cặp kinh Rạch Ruộng để cất nhà ở. Sau khi ông Phạm Thanh D mượn được đất cất nhà cặp hông
3
nhà còn 1 khoảng trống ông Phạm Thanh D lấn chiếm san lấp chiều ngang khoảng 3m dài 15m nhưng còn bỏ trống không cất nhà.
Năm 1997, ông Lê Văn T1 từ xã K đến thuê nền đất của ông Phạm Thanh D để cất nhà làm ăn sinh sống với giá là 250.000 đồng/năm trên phần đất ông D tự lấn chiếm. Ông Phạm Thanh D đã nhận tiền trước 1 năm. ông Pham Thanh D2 giao nền đất cho ông Lê Văn T1 cất nhà, ông D2 đi về xã K đóng đáy. Sau khi ông Lê Văn T1 cất nhà xong khoảng 15 ngày thì ông P cặp ranh với ông Lê Văn T1 báo ông T1 cất nhà lấn qua đất của ông P 1,5m chiều ngang, tranh chấp giữa ông Lê Văn T1 và ông P xảy ra, địa phương và Công ty T3 đã mời ông Phạm Thanh D về để làm việc nhưng phía ông D không về nên chính quyền địa phương giải quyết buộc ông Lê Văn T1 phải tháo dỡ nhà trả cho ông P 1,5m chiều ngang dài khoảng 15m phần đất còn lại chiều ngang 3,2m dài 15m chính quyền cho ông Lê Văn T1 mượn ở.
Năm 1998 ông Phạm Thanh D trở về đòi đất và được chính quyền giải quyết buộc ông Lê Văn T1 phải trả tiền công bồi đắp cho ông Phạm Thanh D số tiền là 400.000 đồng, ông Phạm Thanh D đã nhận đủ. Ông Lê Văn T1 cất nhà ở ổn định. Đến năm 2004 ông Phạm Thanh D làm đơn yêu cầu đòi lại phần đất ông D đã cho ông T1 thuê năm 1997 và ông D cho rằng số tiền 400.000 đồng là tiền thuê nhà, không phải tiền công bồi đắp.
Qua xem xét hiện trạng sử dụng đất thì ông Phạm Thanh D vẫn đủ diện tích mà Liên doanh cho mượn năm 1992. Phần đất ông Lê Văn T1 đang sử dụng đã được chính quyền giải quyết vào năm 1997 khi tranh chấp với ông P và cho ông Lê Văn T1 mượn sử dụng. Việc ông D nhận tiền 400.000 đồng từ ông T1 là tiền công bồi đắp nền đất theo giải quyết của chính quyền địa phương là đúng.
Năm 1998 UBND tỉnh C đã ban hành Quyết định thu hồi đất của Liên doanh thủy sản T3 giao cho UBND thị trấn S quản lý trong đó có phần đất của ông Phạm Thanh D và ông Lê Văn T1 mượn sử dụng. Do đó đất này vẫn thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Năm 2003 UBND tỉnh đã quy hoạch sử dụng đất ở khóm G thị trấn S hiện nay đang tiến hành giao đất cho hộ gia đình cá nhân sử dụng đất theo quy hoạch được phê duyệt.
Từ nguồn gốc diễn biến đất tranh chấp như trên, nên Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 322/QĐ-CTUB ngày 13/5/2005 Quyết định: Bác đơn yêu cầu đòi lại đất ông Phạm Thanh D sinh năm 1948 thường trú khóm G thị trấn S, huyện T. Tạm thời phải giữ nguyên hiện trạng phần đất trên cho hộ ông Lê Văn T1 tạm sử dụng, khi nào thực hiện quy hoạch sử dụng đất hộ ông Lê Văn T1 phải di dời trả lại đất cho Nhà N2.
Sau đó ông Phạm Thanh D không đồng ý với Quyết định số 322/QĐ-CTUB ngày 13/5/2005 của Chủ tịch UBND huyện T nên có khiếu nại Quyết định lên Chủ tịch UBND tỉnh C, tại Quyết định số 1336/QĐ-UBND ngày 25/9/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh C, qua xác minh Nguồn gốc đất này nằm trong khu vực thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty Liên doanh T3 từ năm 1992, đến ngày 30/9/1999 Chủ tịch UBND tỉnh có Quyết định số 637/QĐ-CTUB về việc thu hồi đất tại thị trấn S và giao đất cho UBND huyện T quản lý (trong đó có phần đất của Công ty liên doanh T3 cũ). Việc ông D đòi phần đất mà trước đây ông lấn chiếm thêm
4
ngoài phần đất do Công ty Liên doanh T3 cho ông mượn là không có cơ sở xem xét giải quyết, ông đã nhận tiền bồi hoàn xong và hiện nay ông Phạm Thanh D cũng lấn chiếm một phần đất cặp căn nhà của ông Lê Văn T1 và xây cất nhà ở, đất này cũng do Nhà nước quản lý.
Từ những cơ sở nêu trên, Chủ tịch UBND tỉnh C ban hành Quyết định số 1366/QĐ-UBND ngày 25/9/2008 quyết định Bác đơn khiếu nại của ông Phạm Thanh D, ngụ số H, khóm G, thị trấn S, huyện T. Giữ nguyên Quyết định số 322/QĐ-CTUB ngày 13/5/2005 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết tranh chấp đất giữa hộ ông Phạm Thanh D và ông Lê Văn T1.
Như vậy việc tranh chấp đất giữa ông Phạm Thanh D và ông Lê Văn T1 đã được Chủ tịch UBND hai cấp giải quyết là bác đơn yêu cầu của ông Phạm Thanh D giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp.
[3.2] Hiện trạng phần đất tranh chấp hiện nay: Sau khi ông Lê Văn T1 mất thì vợ ông T1 bà Trần Thị D1 cùng các con Lê Văn T, Lê Triệu S1 đã chuyển nhượng thành quả lao động đất thổ cư và nhà ở cho ông Huỳnh Văn N1, bà Nguyễn Ngọc S vào ngày 19/5/2019 theo hợp đồng chuyển nhượng thì chiều rộng 3,6m, chiều dài 22m, tổng diện tích 79,2m² bao gồm cả phần đất mà Uỷ ban hai cấp đã giải quyết tranh chấp và phần đất phía sau phát sinh tranh chấp phần ranh đất hiện tại.
Sau đó ông N1, bà S tặng cho con gái Huỳnh Thị Trúc L quản lý sử dụng thì xảy ra tranh chấp với ông Phạm Thanh D. Tại bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 01/7/2024 của Chi nhánh Công ty TNHH T4 tại Cà Mau thể hiện: Vị trí tranh chấp là điểm M9-M10 là 0.19m kéo dài ra phía trước, điểm M13 không tranh chấp, diện tích tranh chấp là thửa số 2 diện tích 1.9m². Thửa số 3 diện tích 67.5m² do bà Huỳnh Thị Trúc L đang quản lý không tranh chấp. Như vậy phần diện tích đất tranh chấp vẫn nằm trong phần diện tích đất tranh chấp mà Uỷ ban hai cấp đã giải quyết giữa ông D và ông T1, hiện nay chỉ có khác là do thay đổi chủ sử dụng là bà L về nội hàm phần đất có sự thay đổi là tranh chấp ranh đất.
Tại phiên toà bị đơn bà Huỳnh Thị Trúc L xác định chiều ngang phía sau hậu đất của bà có diện tích 3,2m là đủ, diện tích hiện tại chiều ngang theo bảng đo vẽ không có tranh chấp là 3,16m, Vị trí tranh chấp là điểm M9-M10 là 0.19m kéo dài ra phía trước, điểm M13 không tranh chấp, diện tích tranh chấp là thửa số 2 có diện tích 1.9m² là rất nhỏ, qua quá trình vận động thì hai bên đồng ý chia đôi diện tích tranh chấp này ra, mỗi bên ½ của 0,19m ngang, mỗi bên được 0,095m chiều ngang, như vậy phần đất của bà L là 3,16m + 0,095m = 3,255m, phần đất của ông D là 4,87m + 0,095m = 4,965m là đảm bảo được quyền lợi của các bên, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, việc thoả thuận này không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Như vậy, phần diện tích nguyên đơn yêu cầu xác định quyền sử dụng đất của ông đối với ½ diện tích bằng 0,095m ngang, tổng diện tích là 0.95m² là phù hợp với sự thống nhất của bị đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định ông D được quyền quản lý, sử dụng phần diện tích 0.95m² .
Phần đất tranh chấp cả ông D và bà L chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên tại Công văn của Phòng T5 huyện Trần Văn T2 cung cấp: “Theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của Huyện T được phê duyệt tại
5
Quyết định số 545/QĐ-UBND ngày 24/3/2023 của UBND tỉnh C. Tại vị trí phần đất thuộc quy hoạch đất ở tại đô thị”. Do đó, khi Nhà nước có chính sách về đất đai thì ông Phạm Thanh D, bà Huỳnh Thị Trúc L phải chấp hành đúng quy định của Nhà nước về đất đai đối với người có quyền được sử dụng.
Ngoài ra, ông Phạm Thanh D còn yêu cầu bà Huỳnh Thị Trúc L bồi thường thiệt hại số tiền 650.000 đồng do bà L ngăn cản và đập phá 02 lần hư hỏng 15 viên gạch, 01 bao xi măng, một ngày công của 02 thợ xây. Tại phiên toà ông Phạm Thanh D tự nguyện rút lại yêu cầu này nên Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ xét xử.
[4] Toà án có đưa UBND thị trấn Sông Đ vào tham gia trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đã hai lần gửi Công văn (Lần 1 Công văn số 260/CV-TA ngày 23/7/2024, Lần 2 Công văn số 360/CV-TA ngày 19/9/2024), nhưng UBND thị trấn S vẫn không có văn bản phúc đáp cho Toà án.
[5] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T2, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[7] Chi phí tố tụng: Nguyên đơn có dự nộp các chi phí tố tụng trong quá trình xem xét giải quyết vụ án và đã thực hiện xong bao gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 200.000 đồng và chi phí đo đạc 7.008.000 đồng, tổng cộng là 7.208.000 đồng, do nguyên đơn tự nguyện chịu ½ chi phí tố tụng, nên ½ chi phí tố tụng còn lại buộc bị đơn trả cho nguyên đơn là 3.604.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 186, Điều 205, 227, 228, 244 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Thanh D.
Ông Phạm Thanh D được quyền quản lý sử dụng phần đất có diện tích 0.95m² đất toạ lạc tại khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, có vị trí theo bản đo vẽ là điểm M10 đến điểm A có số đo là 0.095m, kéo dài đến M13 (1/2 diện tích đất tranh chấp).
(Có bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 01/7/2024 của Chi nhánh Công ty TNHH T4 tại Cà Mau thể hiện diện tích và vị trí cụ thể của phần đất kèm theo).
Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Thanh D về việc yêu cầu bà Huỳnh Thị Trúc L bồi thường thiệt hại số tiền 650.000 đồng.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Huỳnh Thị Trúc L phải chịu án phí là 300.000 đồng, chưa nộp.
6
Nguyên đơn ông Phạm Thanh D được miễn tiền nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét hoàn lại.
3. Chi phí tố tụng nguyên đơn, bị đơn phải chịu 1/2 số tiền 7.208.000 đồng, nguyên đơn đã dự nộp xong. Bị đơn bà Huỳnh Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Thanh D số tiền 3.604.000 đồng (ba triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận: - Phòng KT-NV TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Đen |
7
Bản án số 359/2024/DS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
- Số bản án: 359/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh D tranh chấp quyền sử dụng đất
