|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 359/2023/DSPT Ngày: 15 - 8 - 2023 V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan. |
| Các Thẩm phán: | Bà Trương Thị Liên; |
| Bà Nguyễn Thị Trang Thư. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2023/TLPT- DS ngày 02 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 146/2022/DS – ST ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai bị bị đơn ông Bùi Văn L kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 194/2023/QĐPT-DS ngày 21 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2023/QĐ – PT ngày 24 tháng 4 năm 2023, Thông báo mở lại phiên tòa số 164/2023/TB-TA ngày 24 tháng 7 năm 2023 và giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mai Công N, sinh năm 1962; địa chỉ: Số F dường B, KV D, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1958; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Minh T, sinh năm 2000; địa chỉ: A ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Châu Thanh B thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; địa chỉ: A C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Mai Công N (có người đại diện theo ủy quyền) trình bày: Ông và ông Bùi Văn L quen biết nhau nên vào ngày 02/01/2020 ông L hỏi ông vay số tiền 300.000.000dồng theo Biên nhận tiền ngày 02/01/2020 có chữ viết và chữ ký của ông Bùi Văn L. Do mục đích vay là mua xe cơ giới làm công trình nên sau khi xong công trình thì ông L có nghĩa vụ trả nợ cho ông, thời gian hoàn thành công trình là khoảng tháng 7 năm 2021. Sau nhiều lần dòi nợ (lần cuối là khoảng tháng 12/2021) thì ông L trả cho ông 30.000.000đồng tiền lãi. Nay ông yêu cầu ông L trả lại tiền vốn gốc và tiền lãi từ ngày 02/01/2020 đến ngày 30/12/2022 là 35 tháng 28 ngày với mức lãi suất 2%/tháng: 215.600.000dồng - 30.000.000đồng 185.600.000đồng.
Theo lời khai tại tòa, bị đơn ông Bùi Văn L trình bày: Ông có vay số tiền 300.000.000đồng của ông N, không tính lãi và không thỏa thuận thời gian trả ông đã trả vốn gốc và lãi nhiều lần với tổng số tiền là 350.000.000đồng, mỗi lần trả tiền thì ông ký vào sổ theo dõi nợ của N, do dịch bệnh Covid-19 nên công việc của ông gặp nhiều khó khăn, công trình hoàn thành là khoảng tháng 7 năm 2021 và lần sau cùng ông N liên hệ với ông dễ đòi nợ là khoảng cuối năm 2021, từ đó đến nay ông không có thu nhập nên vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho ông N, vi không thể chứng minh về số tiền dã trả nên ông cũng đồng ý trả nợ gốc 270.000.000đồng cho ông N và tiền lãi kể từ ngày ông N khởi kiện ông.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 146/2022/DS – ST ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Công N.
- Buộc ông Bùi Văn L trả cho ông Mai Công N số tiền 328.266.000đồng (ba trăm hai mươi tám triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) (gồm 270.000.000đồng vốn gốc và 58.266.000 đồng tiền lãi).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (dối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương. Bản án nêu trên ông Bùi Văn L kháng cáo. Theo đơn kháng cáo ông L yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại số tiền nợ gốc phải trả, ông cho rằng số tiền nợ gốc hiện tại còn nợ là 240.000.000đồng không phải 270.000.000đồng như án sơ thẩm đã tuyên. Về lãi suất ông L đề nghị lại thời gian tính lãi vì ông N không có thông báo thời
gian trả nợ cho ông biết. Thời gian tính lãi từ khi ông N khởi kiện là tháng 11 năm 2022.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và có cung cấp 01 bản pho to sao kê tài khoản thể hiện có nhờ một người chuyển trả cho ông N 15.000.000 đồng. Do đó, số tiền nợ gốc ông còn thiếu là 240.000.000 đồng và nợ lãi khoản 20.000.000 đồng. Tổng số tiền nợ là 260.000.000 đồng.
Ông T người đại diện hợp pháp của ông N thừa nhận ông N có nhận của ông L số tiền 15.000.000 đồng nên số tiền gốc ông L còn nợ là 255.000.000 đồng. Đối với lãi suất, ông N đồng ý giảm cho ông L so với số tiền theo bản án sơ thẩm đã tuyên, cụ thể ông L phải trả số tiền lãi 15.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền nợ gốc và lãi ông L phải trả cho ông N là 270.000.000 đồng.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Trong giai đoạn phúc thẩm Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về Thụ lý xét xử phúc thẩm (Điều 285); Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm (Điều 286); Cung cấp tài liệu, chứng cứ (Điều 287); Triệu tập những người tham gia tố tụng (Điều 294).
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng theo thẩm quyền được quy định tại Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Thư ký phiên tòa đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đúng theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
* Về việc giải quyết vụ án dân sự:
Căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ và chứng cứ ông L cung cấp tại tòa cũng như lời thừa nhận của đại diện ủy quyền cho thấy số nợ gốc ông L còn nợ ông N là 255.000.000 đồng. Đối nợ lãi, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu ông L trả số tiền 15.000.000 đồng giảm nhiều so với quyết định của bản án sơ thẩm. Đây là thiện chí của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án sơ thẩm số 146/2022/DS – ST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc xem xét số nợ gốc phải trả. Căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ như “ Biên nhận nợ” và lời thừa nhận của bị đơn có đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập giao dịch dân sự về vay tài sản. Loại hợp đồng vay là không thời hạn và không tính lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự
[2] Theo “Tờ biên nhận” thể hiện nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 300.000.000 đồng. Quá trình xét xử sơ thẩm bị đơn thừa nhận đã trả cho nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng do đó cấp sơ thẩm xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc 270.000.000 đồng là có cơ sở. Bị đơn kháng cáo vì cho rằng ngoài số tiền đã trả nêu trên bị đơn còn có trả thêm cho nguyên 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị đơn có cung cấp bản photo sao kê tài khoản để chứng minh đã có trả cho nguyên đơn số tiền 15.000.000 đồng. Xét thấy, tài liệu phía bị đơn cung cấp là bản photo tuy nhiên đại diện nguyên đơn thừa nhận bị đơn có chuyển trả cho nguyên đơn số tiền 15.000.000 đồng theo bản sao kê trên nên tài liệu này được xem là chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Ngoài chứng cứ nêu trên thì bị đơn không có chứng cứ nào khác để chứng minh có trả cho nguyên đơn 15.000.000 đồng. Do đó, bị đơn chỉ chứng minh được mình còn nợ nguyên đơn số tiền 255.000.000 đồng, không phải 240.000.000 đồng như yêu cầu kháng cáo. Như vậy, kháng cáo của bị đơn về nợ gốc được chấp nhận một phần.
[3] Đối với kháng cáo về thời gian tính lãi suất. Xét thấy, hợp đồng vay giữa nguyên đơn và bị đơn là loại hợp đồng vay không kỳ hạn, không tính lãi như vậy, theo quy định của loại hợp đồng này thì nguyên đơn có quyền đòi lại tiền vay bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bị đơn trước một thời gian hợp lý. Theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2019 ngày 11/01/2019 của HĐTPTANDTC thì thời gian hợp lý tùy trường hợp cụ thể nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo. Theo đơn kháng cáo và tại phiên tòa, bị đơn cho rằng ông N không thông báo việc đòi nợ cho ông cho đến khi khởi kiện tại Tòa án, do đó cấp sơ thẩm ấn định thời gian tính lãi từ tháng 12/2021 là không có căn cứ. Ông yêu cầu tính lãi từ tháng 12/2022 vì thời gian này ông mới nhận được Thông báo đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, căn cứ vào trình bày của bị đơn trong quá trình xét xử sơ thẩm sau khi vay tiền bị đơn đã trả tiền cho nguyên đơn nhiều lần, do dịch bệnh Covid-19 nên công việc của ông gặp nhiều khó khăn, công trình hoàn thành là khoảng tháng 7 năm 2021 và lần sau cùng ông N liên hệ với ông dễ đòi nợ là khoảng cuối năm 2021. Từ cơ sở trên cho thấy bị đơn đã biết
được thông báo trả nợ của nguyên đơn trước tháng 11/2021 nhưng do khó khăn về kinh tế nên bị đơn mới vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Đối chiếu với quy định của pháp luật Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi suất từ tháng 11/2021 là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đồng ý giảm lãi cho bị đơn, chỉ yêu cầu số tiền lãi 15.000.000 đồng. Xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận Do đó, kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền nợ gốc và lãi mà bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn là 270.000.000 đồng.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 146/2022/DS - ST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân quận huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Công N.
- Buộc ông Bùi Văn L trả cho ông Mai Công N số tiền 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng) (gồm 255.000.000 đồng vốn gốc và 15.000.000 đồng tiền lãi).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu do thuộc trường hợp được miễn.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 359/2023/DSPT ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 359/2023/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nhuận - Lý - T/c HĐ vay tài sản
