|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 359/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13/9/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 352/2024/HNGĐ-TLST ngày 02/7/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 427/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 282/2024/QĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh ngày 23/12/1997.
Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn : Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 28/11/1989.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan
( Chị H, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 10/6/2016. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được gần 3 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Đầu năm 2020 chị sang Đài Loan lao động, đến đầu năm 2021 anh T cũng sang Đài Loan lao động, tuy nhiên vợ chồng mỗi người sống một nơi, hai bên không liên lạc với nhau. Từ khi đi nước ngoài, anh T chưa về Việt Nam lần nào. Ngày 14/6/2024 chị về Việt Nam cũng không liên lạc với anh T. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống của hai bên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 1 con chung là cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 07/11/2016. Trong thời gian chị và anh T ở nước ngoài thì cháu Đ được ông bà hai bên chăm sóc. Nay chị đã về Việt Nam, ly hôn ban đầu chị có nguyện vọng được nuôi con, tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, chị thay đổi quan điểm, chị đồng ý để anh T nuôi con, tuy nhiên trong thời gian anh T ở nước ngoài chị sẽ là người trực tiếp nuôi con, khi nào anh T về Việt Nam thì anh T sẽ đón con về chăm sóc.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Việc anh T trình bày hiện chị cầm vàng và tiền hụi họ là tài sản chung vợ chồng là không đúng, vì số tài sản này anh T đã nhờ gia đình chị bán đi để làm thủ tục đi nước ngoài, đến nay không còn tài sản này.
- Theo chị H trình bày, anh Nguyễn Văn T hiện nay đang lao động tại Đài Loan, chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh T thông qua gia đình. Ông Nguyễn Văn B và bà Vũ Thị D là bố mẹ đẻ anh T cung cấp thông tin: Anh T đang lao động tại Đài Loan địa chỉ ở nước ngoài của anh T ông bà không biết, nhưng anh T thường xuyên gọi điện thoại về gia đình và đã biết chị H làm đơn ly hôn. Ông bà đồng ý nhận văn bản tố tụng để thông tin cho anh T biết. Tại buổi làm việc cùng với Tòa án, anh T đã trực tiếp gọi điện thoại về và trình bày quan điểm. Anh xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do chị H có quan hệ ngoại tình, thiếu tôn trọng anh. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh đồng ý nhưng với điều kiện anh được nuôi con, vì từ khi chị H đi nước ngoài không có trách nhiệm với con, cháu Đ hiện được ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay anh tiếp tục ủy quyền cho bố mẹ đẻ anh chăm sóc cháu Đ trong thời gian anh không ở Việt Nam, anh tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định chị H đang cầm 1 cây vàng 9999 là của hồi môn của hai gia đình và 40.000.000đồng tiền chơi hụi họ. Nếu anh được nuôi con, anh tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố mẹ đẻ nhận thay các văn bản tố tụng. Ông B, bà D đồng ý nhận ủy quyền của anh T và đề nghị được giải quyết vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Minh Đ là con chung của anh T, chị H có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị H được ly hôn chị T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 07/11/2016 cho anh Nguyễn Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T không ở Việt Nam, tạm giao cháu Đ cho chị Phạm Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương. Hiện anh T đang lao động ở nước ngoài. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh T ở Đài Loan. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh được biết, anh T thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông B, bà D đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh T biết. Thông qua gia đình anh T đã có quan điểm về việc ly hôn và nuôi con. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Chị H, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 10/6/2016, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh T. Quá trình giải quyết vụ án, anh T xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, chị H có đơn ly hôn, anh cũng đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H
- Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 07/11/2016. Ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi con, chị H đồng ý nhưng với điều kiện trong thời gian anh T ở nước ngoài chị sẽ trực tiếp nuôi con. Xét thấy, mặc dù anh T và chị H thống nhất giao cháu Đ cho anh T nuôi dưỡng, tuy nhiên hiện tại do anh T đang ở Đài Loan, nên trong thời gian anh T chưa về Việt Nam cần tạm giao cháu Đ cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Anh T có quyền đón cháu Đ về nuôi dưỡng khi anh đã về Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 07/11/2016 cho anh Nguyễn Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh T không ở Việt Nam. tạm giao cháu Đ cho chị Phạm Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Chị Phạm Thị H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000823 ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 359/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 359/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
