|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 359/2025/DS-PT Ngày 26 - 6 - 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Chí Dũng |
| Các Thẩm phán: | Ông Ngô Tấn Lợi |
| Bà Kiều Kim Xuân |
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 295/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1963 (chết ngày 25/01/2025).
- Bà Đoàn Thị Tuyết H, sinh năm 1970.
- Anh Võ Chí C, sinh năm 1988.
- Anh Võ Chí L, sinh năm 1989.
- Anh Võ Chí T, sinh năm 1991.
- Chị Võ Thị Huỳnh N, sinh năm 1993.
- Bị đơn: Bà Bạch Thị N1, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Tổ F, Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Văn Đ:
Cùng địa chỉ: Tổ F, Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bạch Thị N1: Bà Nguyễn Bảo H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A, N, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đoàn Thị Tuyết H, sinh năm 1970.
- Ủy ban nhân dân huyện C.
- Người kháng cáo: Bà Bạch Thị N1 là bị đơn trong vụ án.
Địa chỉ: Tổ F, Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ trụ sở: Số B, đường C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Bà H1, bà N1, bà H, anh C, anh T; Anh L1, chị N, Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Võ Văn Đ trình bày:
Nguồn gốc đất của cụ Võ Văn M (đã chết) là cha của ông Đ khai mở từ thời M1 cùng gia đình sử dụng cho đến nay, đất tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Năm 1999, Nhà nước ban hành chính sách cho những người khai mở đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ Bạch Thị B (đã chết) là mẹ của ông Đ đứng chủ quyền do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/8/1999. Đến năm 2007 cụ B lớn tuổi chuyển cho ông Đ quản lý và đứng chủ quyền, ông Đ hỏi phần đất tranh chấp với bà N1 hiện nay không phải là đất ruộng nên không được ghi vào sổ. Đến năm 2013 ông Đ và ông Bạch Văn Đ1 cha bà Bạch Thị N1 đã có xuống trụ đá ranh đất. Thời gian ông Đ1 đã làm thủ tục sang tên đất cho bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Trong thửa đất 1003 bà N1 đứng tên có phần đất của ông Đ chiều ngang 20,5m, chiều dài 38m, diện tích 779m² đang sử dụng và trồng cây trên phần đất. Khi phát hiện bà N1 được cấp quyền sử dụng bao trùm phần đất nên ông Đ có làm đơn trình báo chính quyền địa phương giải quyết. Buổi hòa giải lần 01 vào ngày 08/6/2021 ông Đ yêu cầu bà N1 trả lại quyền sử dụng đất bà N1 không đồng ý, buổi hòa giải lần 02 vào ngày 03/6/2022 tại Ủy ban nhân dân xã B bà N1 vẫn không đồng ý.
Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ đối với phần đất diện tích 779m², thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Hủy (thu hồi) một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đ yêu cầu công nhận diện tích đất 708,6m², theo Sơ đồ đo đạc mà ông Đ đã xác định, thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn bà Bạch Thị N1 trình bày:
Phần đất ông Võ Văn Đ đang tranh chấp với bà N1 thuộc thửa đất 1003, diện tích 2.500m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc của ông nội bà N1 là cụ Bạch Văn C1 là cha ông Bạch Văn Đ1 khai mở. Cụ C1 sử dụng và sau đó để lại cho ông Đ1, khi Nhà nước ban hành quy định cho những người khai mở đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ C1 để cho ông Đ1 đứng tên quyền sử dụng đất, ông Đ1 đã kê khai, đăng ký chủ quyền ngày 08/7/1988 và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 10/8/1999, số vào sổ 001815. Sau đó ông Đ1 tặng cho quyền sử đất thửa đất 1003, diện tích 2.500m², tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho bà N1 có lập thành hợp đồng tặng cho số 78 lập ngày 25/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, số chứng thực 159, quyển số 01/TP-CC-SCT/HDGD, bà N1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 13/5/2016.
Quá trình sử dụng do ông Đ1 công tác tại Ủy ban nhân dân xã B không thể trực tiếp canh tác thường xuyên chủ yếu vợ ông Đ1 bà Trần Thị N2 canh tác, bà N2 trồng một hàng cây gáo, vài cây me tây trên đất. Sau này bà M2 em của cụ C1 không có chỗ ở xin cụ C1 ở nhờ, thời gian bà M2 ở nhờ thì các cây bà N2 trồng vẫn còn. Khi bà M2 dời đi bà N2 canh tác tiếp, do bà N2 bị bệnh thì bà Võ Thị N3 cô bà N1 em ông Đ hỏi ở nhờ khi có đất sẽ trả lại ông Đ1 đồng ý. Sau đó bà N3 có chỗ ở khác đã trả đất lại bà N2 sử dụng đất ông Đ ngăn cản, thời gian bà N3 ở ông Đ có trồng cây trên đất, gia đình bà N1 kêu ông Đ đốn nhưng không đồng ý. Còn cây bà N2 trồng trước đó thì không còn.
Từ khi bà N3 trả lại đất và bà N2 bị bệnh chết vào năm 2000, gia đình bà N1 bận rộn không để ý đến các cây trồng trên đất, ông Đ1 không có thời gian canh tác, ông Đ tiếp tục trồng cây trên đất, gia đình ông Đ bắt đầu làm khó đe dọa ông Đ1, bà N1 bị khuyết tật không thể trực tiếp sử dụng đất, khi ông Đ1
tặng cho quyền sử dụng đất, bà N1 cho thuê thì ông Đ làm khó không ai thuê đất.
Đến năm 2013 bà N1 thuê kobe múc một đường dẫn nước từ đất ruộng thửa đất 1002 ra đến sông một đoạn dọc theo phần đất tranh chấp thì ông Đ không cho làm. Bà N1 sợ bị đánh nên ngừng làm đợi ấp giải quyết xuống trụ đá theo ý kiến của ông Đ, khi B1 nhân dân ấp giải quyết xuống trụ đá ông Đ chỉ ranh bao trùm luôn phần đất đang tranh chấp thửa đất 1003 bà N1 không đồng ý, nhưng cha bà N1, ông Đ1 sợ bị ông Đ đánh nên nói bà N1 ký biên bản chịu vị trí ranh ngay chỗ ông Đ chỉ, khi đó ông Đ1 nói với bà N1 “Nếu không muốn tao chết thì ký, nếu không ký thì tao chết" bà N1 ký.
Việc bà N1 đồng ý xuống trụ đá theo vị trí ông Đ bị đe dọa, vì muốn được yên ổn để cho người ta thuê đất kiếm tiền nuôi sống bản thân đồng ý ký và xuống trụ đá ranh, chứ vị trí ông Đ chỉ khi xuống trụ đá là không đúng, phần đất ông Đ đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Đ1 từ năm 1999.
Ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ:
Xét về nguồn gốc đất là của cụ C1 để lại cho ông Đ1, ông Đ1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào năm 1999, bà N2 là người trực tiếp canh tác lúc còn sống. Năm 2016 ông Đ1 tặng cho bà N1 toàn bộ thửa đất 1003, diện tích 2.500m², hàng năm bà N1 nộp thuế sử dụng đất. Bà N1 không đồng ý với nội dung khởi kiện của ông Đ, yêu cầu ông Đ trả lại cho bà N1 phần đất tranh chấp. Sau khi được tặng cho đất bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có thực hiện thủ tục sang tên một phần diện tích của thửa đất 1003. Tuy nhiên, theo trích lục bản đồ địa chính thể hiện bà N1 bị mất một phần đất (theo bản trích lục bản đồ địa chính ngày 28/12/2022).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Tuyết H trình bày: Bà H thống nhất ý kiến của ông Võ Văn Đ, không bổ sung gì thêm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C trình bày: Có Văn bản xét xử vắng mặt.
Tại quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử:
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn Đ. Ông Võ Văn Đ được quyền sử dụng đất diện tích đất 708,6m² (đất ở nông thôn) được xác định trong phạm vi các mốc: M2-M10 (trụ đá)-M11(trụ đá)-M5-M4-M3-M2 theo Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thuộc một phần thửa 1003, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ các ngày 12/4/2023, 14/6/2024 của Tòa án).
Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi diện tích đất 2.509,9m², thuộc thửa 1003, tờ bản đồ số 9, cấp cho bà Bạch Thị N1 để cấp lại cho bà Bạch Thị N1, ông Võ Văn Đ.
- Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- Ông Võ Văn Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại 5.842.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Đ đã nộp theo Biên lai số 0000045, ngày 11/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Bà Bạch Thị N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người khuyết tật nên được miễn.
- Bà Bạch Thị N1 phải chịu 4.143.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do ông Võ Văn Đ đã nộp và chi xong số tiền 4.143.000 đồng nên bà N1 phải nộp để trả lại cho ông Đ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/12/2024 bà Bạch Thị N1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Bà N1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Đ, yêu cầu ông Đ phải trả lại cho bà N1 phần đất 554,5m², thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Nguyễn Bảo H1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Bạch Thị N1 trình bày: Vẫn giữ kháng cáo, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bạch Văn Đ1 đúng quy định của pháp luật, bản án sơ thẩm cho rằng không có đo đạc thực tế là không đúng, ông Đ yêu cầu bà N1 trả lại diện tích 708,6m² là không có căn cứ, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1, bà N1 là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền. Năm 2016 ông Đ1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà N1 là hợp pháp, đây là tài sản hợp pháp của bà N1, hợp đồng tặng cho không bị tranh chấp, bản án sơ thẩm làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N1, ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Từ những phân tích, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà N1, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Bà Đoàn Thị Tuyết H, anh Võ Chí C, anh Võ Chí T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Văn Đ trình bày: Không thống nhất kháng cáo của bà N1, thống nhất theo bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Bạch Thị N1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bà Bạch Thị N1 nộp trong thời hạn luật định. Căn cứ Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai chỉ có bà H1, bà N1, bà H, anh C, anh T có mặt; Anh L1, chị N, Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thụ lý giải quyết phù hợp khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Bạch Thị N1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Bà N1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Đ, yêu cầu ông Đ phải trả lại cho bà N1 phần đất 554,5m², thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Đ yêu cầu công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế 708,6m2, thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và yêu cầu thu hồi một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về nguồn gốc đất: Ông Đ cho rằng phần đất tranh chấp của cụ M và cụ B là cha, mẹ của ông Đ để lại, còn bà N1 cho rằng của ông nội là cụ C1 khai mở để lại cho ông Đ1, sau đó ông Đ1 tặng cho bà.
Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện: Thửa đất 1003, diện tích 2.500m², tờ bản đồ số 9 có nguồn gốc từ thửa đất 581, diện tích 4.000m², tờ bản đồ số 08 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1 vào ngày 29/8/1993. Đến ngày 10/8/1999 cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 25/4/2016 ông Đ1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất 1003, diện tích 2.500m² cho bà N1. Đến ngày 13/5/2016 bà N1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Công văn số: 2094/UBND-HC ngày 26/9/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C cung cấp thông tin: Thửa đất 1003, tờ bản đồ số 09 (bản đồ lưới tọa độ), tọa lạc tại xã B, huyện C có nguồn gốc là của Bạch Văn Đ1, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho Bạch Văn Đ1 đứng tên (theo bản đồ 299) vào ngày 29/8/1993, tại thửa 581, tờ bản đồ số 08. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Bạch Thị N1, không có thực hiện đo đạc thực tế. Phần diện tích thửa đất 1003, tờ bản đồ số 09, theo trích lục năm 2016 hình thể và diện tích theo hồ sơ tặng cho quyền sử dụng của ông Bạch Văn Đ1 cho bà Bạch Thị N1 không có thực hiện đo đạc thực tế.
Bà N1 cho rằng ông Đ1 công tác tại Ủy ban nhân dân xã B nên không trực tiếp sử dụng đất, một phần diện tích đất cấp cho ông Đ1 thì ông Đ sử dụng trồng cây lâu năm. Trên đất có cây vú sữa trồng hơn 20 năm. Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ bà N1 thừa nhận toàn bộ cây trồng trên đất là do ông Đ trồng. Năm 2017 bà N1 đào đất ao nuôi cá nhưng diện tích tranh chấp thì ông Đ sử dụng. Do đó, một phần diện tích đất tranh chấp thửa đất 1003, tờ bản đồ số 09 có nguồn gốc của ông Đ1 và một phần diện tích đất của cụ M và cụ B là phù hợp theo hiện trạng sử dụng thực tế.
Về quá trình sử dụng đất: Thửa đất 1003, tờ bản đồ số 09, khi cấp đất cho ông Đ1 không đo đạc thực tế, không xác định được khi cấp đất ai là người đang sử dụng đất, khi lập thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho bà N1 được cấp quyền sử dụng đất không đo đạc thực tế, nên không phát hiện ông Đ đang sử dụng đất trồng cây lâu năm trên đất. Năm 2017 ông Đ thuê kobe lên líp cao hơn do trước đây cây trồng bị ngập nước chết để trồng xoài như hiện trạng hiện nay.
Tại Công văn số: 777/UBND-HC ngày 21/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã B cung cấp thông tin: Diện tích tranh chấp thuộc một phần thửa đất 1003, tờ bản đồ số 09 hiện nay ông Võ Văn Đ đang trồng cây lâu năm. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N1 không có tiến hành đo đạc thực tế mà chỉ lập thủ tục tặng cho hết thửa.
Theo ông Đ trình bày vào năm 2013 giữa ông Đ và ông Đ1 tiến hành cắm trụ đá xác định ranh, cụ thể: Diện tích đất ông Đ sử dụng với diện tích đất ông Đ1 tiến hành cắm 04 trụ đá xác định ranh. Năm 2017 bà N1 đào đất ruộng thành đất ao để nuôi cá cũng chỉ đào ao đến ranh giới các trụ đá ranh. Năm 2019 khi ông Đ biết một phần diện tích đất được cha, mẹ cho chưa được cấp quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp, nên làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất thì bà N1 không thống nhất ranh đất.
Tại Biên bản hòa giải ngày 02/8/2019 của Ban nhân dân ấp 3 thể hiện: Bà N1 trình bày thống nhất ranh giới ngoài ruộng, còn ranh giới phía đường là trụ đá dời qua một tấc, ban hòa giải động viên nên bà N1, ông Đ thống nhất ranh giới là các trụ đá đã xác định trước đó. Theo sơ đồ đo đạc và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ diện tích đất ông Đ sử dụng với diện tích đất cấp cho bà N1 vẫn còn 03 trụ đá ranh là mốc M10, M11 và 01 mốc sau hậu đất ông Đ. Các trụ đá mốc M10, M11 được cắm ở mí mương lạng giáp diện tích đất ông Đ sử dụng, mốc M2 ông Đ xác định là mí mương hiện trạng. Toàn bộ diện tích đất con mương là do cha bà N1 đào, hiện trạng sử dụng đất thực tế giữa bà N1 với ông Đ cũng phù hợp với lời trình bày khai của ông Đ1. Quá trình sử dụng đất ông Đ thuê kobe lên líp trồng vườn và trồng cây lâu năm trên đất ông Đ1, bà N1 biết rõ nhưng không tranh chấp và nhà ông Đ1, bà N1 ở giáp ranh đất tranh chấp. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1, bà N1 cấp trùng phần diện tích đất ông Đ đã sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà N1, bà H1 là người đại diện theo ủy quyền của bà N1 cho rằng việc xác định ranh và xuống đá bị đe dọa, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ, chứng minh mà chỉ là lời trình bày.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ là có cơ sở. Công nhận diện tích đất 708,6m2, thuộc một phần thửa đất 1003, trong phạm vi các mốc: M2-M10-M11-M5-M4-M3-M2 theo Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà H1 là người đại diện theo ủy quyền của bà N1 không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bà N1 là có căn cứ. Tuy nhiên, điều chỉnh cách tuyên án cho phù hợp.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của bà N1 là không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận kháng cáo của bà N1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà N1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà N1 thuộc người khuyết tật nên được miễn án phí theo quy định.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bạch Thị N1.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Đ (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm: Bà Đoàn Thị Tuyết H, anh Võ Chí C, anh Võ Chí L, anh Võ Chí T, chị Võ Thị Huỳnh N).
- Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bạch Thị N1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Văn Đ gồm: Bà Đoàn Thị Tuyết H, anh Võ Chí C, anh Võ Chí L, anh Võ Chí T, chị Võ Thị Huỳnh N được quyền sử dụng diện tích đất 708,6m², thuộc một phần thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn, trong phạm vi các mốc M2-M10-M11-M5-M4-M3-M2 theo Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Bạch Thị N1 thửa đất 1003, tờ bản đồ số 9, để cấp lại cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ các ngày 12/4/2023, 14/6/2024 của Tòa án).
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Văn Đ gồm: Bà Đoàn Thị Tuyết H, anh Võ Chí C, anh Võ Chí L, anh Võ Chí T, chị Võ Thị Huỳnh N được nhận lại 5.842.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Đ đã nộp theo Biên lai số 0000045, ngày 11/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Bà Bạch Thị N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người khuyết tật.
- Bà Bạch Thị N1 phải chịu 4.143.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do ông Võ Văn Đ đã nộp và chi xong, nên bà N1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ gồm: Bà Đoàn Thị Tuyết H, anh Võ Chí C, anh Võ Chí L, anh Võ Chí T, chị Võ Thị Huỳnh N.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Dững |
Bản án số 359/2025/DS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 359/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Đ - Bạch Thị N
