Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số 359/2024/HS-PT
Ngày 01/8/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:ông Đặng Kim Nhân
Các Thẩm phán:ông Nguyễn Tấn Long
bà Võ Thị Ngọc Dung

- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Chiến - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 315/2024/TLPT-HS ngày 25/6/2024 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lăk xét xử bị cáo Đoàn Thị L về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của bị hại, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1434/QĐXXPT-HS ngày 15/7/2024.

Bị cáo: Đoàn Thị L, sinh ngày 21/8/1992 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi thường trú: thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: 2 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn (văn hóa): 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Thế N (đã chết) và bà Ngô Thị H; bị cáo có chồng là Nguyễn Xuân K và có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại, bị cáo vắng mặt có gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Thị L: Luật sư Trần Trọng H1 - Văn phòng L4, Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: A M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt có gửi Luận cứ bào chữa.

Người bị hại có kháng cáo: bà Lê Thị V, sinh năm 1981; địa chỉ: C Y nối dài, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Do cần tiền để chi tiêu và trả nợ cá nhân, Đoàn Thị L đã nghĩ ra việc lợi dụng lòng tin của những người quen biết để đưa ra thông tin gian dối về việc L đang làm việc cho 01 công ty kinh doanh bất động sản tại thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều dự án lớn và lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh chuyển nhượng quyền sử dụng đất rất cao; đồng thời vận động, kêu gọi những người nêu trên cùng đầu tư góp vốn với L để kinh doanh bất động sản. Nhằm mục đích tạo lòng tin để mọi người chuyển tiền góp vốn kinh doanh, thời gian đầu L nhận tiền đầu tư của các cá nhân, rồi chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận đúng thời hạn thoả thuận, thậm chí có những khoản L trả trước thời gian thỏa thuận (bằng hình thức lấy tiền của người đầu tư sau hoặc bằng chính tiền đầu tư lần sau của một cá nhân để trả cho người đầu tư trước hoặc lần đầu tư trước của một cá nhân). Sau đó L liên tục gọi điện thoại, nhắn tin cho những người nêu trên, đưa ra thông tin gian dối về việc mua, bán đất, số tiền góp vốn, tiền hoa hồng được hưởng và thời gian trả tiền, để những người nêu trên tiếp tục chuyển tiền cho L. Khi số tiền những người trên chuyển cho L ngày càng lớn, thì L không thực hiện việc chuyển trả tiền như đã thỏa thuận, liên tục hứa hẹn và sau đó chiếm đoạt số tiền còn lại của những người này. Quá trình thực hiện hành vi, L sử dụng số điện thoại 0946.680.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Lan Đoan” để liên lạc, giao dịch nhận và chuyển tiền qua 01 tài khoản số [...] mang tên Đoàn Thị L tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là S1), Chi nhánh Đ. Trong thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 4/2023, L đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với 10 cá nhân có quan hệ quen biết, cụ thể như sau:

  1. Đối với ông Nguyễn Văn L1: Thông qua mối quan hệ quen biết, Đoàn Thị L làm quen và sau đó vận động ông L1 góp vốn đầu tư kinh doanh chuyển nhượng quyền sử dụng đất để tìm kiếm lợi nhuận. Ông L1 hỏi L về cách thức làm ăn thì được L trả lời là: “Mình lấy thông tin về đất và giá bán của người chủ, sau đó đi giới thiệu cho người khác với giá cao hơn, nếu khách đồng ý mua thì yêu cầu họ đặt cọc tiền, ông L1 và L bỏ thêm tiền vào để mua lô đất đó, sau khi được chủ đất làm giấy ủy quyền toàn bộ lô đất thì làm thủ tục chuyển nhượng sang tên cho khách mua, lấy tiền bán đất và cùng nhau ăn chia tiền chênh lệch (tiền hoa hồng) theo tỉ lệ góp vốn”. Ông L1 cũng hỏi L về rủi ro của việc này thì L trả lời: “Em làm việc trực tiếp với chủ đất và nhận tiền cọc từ người mua nên không có rủi ro được”. Tin tưởng vào lời L nói, ông L1 đã đồng ý góp vốn đầu tư, hai bên trao đổi, thỏa thuận bằng việc nhắn tin, gọi điện thoại thông qua mạng Zalo, ông L1 sử dụng số điện thoại 0935.783.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Van Lang”, sử dụng tài khoản số 19788686866 mang tên Nguyễn Văn L1 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M1) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với tài khoản của Đoàn Thị L. Từ ngày 14/7/2022 đến ngày 01/3/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với ông L1 về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện C, E, K, C M'gar, L2, Ea H'leo và thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, ông L1 đã thực hiện 30 lượt chuyển khoản tổng số tiền 5.558.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 18/7/2022 đến ngày 18/3/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 29 lượt cho ông L1 với tổng số tiền 5.120.700.000 đồng. L đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn L1 số tiền 437.300.000 đồng (5.558.000.000₫ - 5.120.700.000₫). Ngày 28/4/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, ông L1 đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Đến ngày 04/5/2023, L đã chuyển trả thêm cho ông L1 số tiền 15.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
  2. 2

  3. Đối với bà Lê Thị V: Đoàn Thị L thường xuyên đến Tiệm gội đầu Thùy V1 (địa chỉ: Số 1 đường H, phường T, thành phố B) do bà Lê Thị V làm chủ, nói chuyện làm quen rồi xin số điện thoại của bà V để liên lạc. Sau đó L vận động bà V góp vốn đầu tư kinh doanh chuyển nhượng quyền sử dụng đất để tìm kiếm lợi nhuận thì bà V đồng ý và sử dụng Tài khoản số [...] mang tên Lê Thị V tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 (V4) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với tài khoản của Đoàn Thị L. Từ ngày 01/6/2022 đến ngày 20/3/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với bà V về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện C, L, Ea H'leo, Krông B, tỉnh Đắk Lắk và một số thửa đất không xác định địa chỉ cụ thể, bà V đã thực hiện 25 lượt chuyển khoản tổng số tiền 2.215.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 14/6/2022 đến ngày 18/4/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 20 lượt cho bà V, với tổng số tiền là 1.597.000.000 đồng. L đã chiếm đoạt của bà Lê Thị V số tiền 618.000.000 đồng (2.215.000.000₫ - 1.597.000.000₫). Ngày 26/4/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, bà V đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Từ ngày 04 đến ngày 18/5/2023 L đã chuyển trả tiền 05 lượt cho bà V với tổng số tiền 20.200.000 đồng để khắc phục hậu quả.
  4. Đối với ông Nguyễn Văn R: Ông R sử dụng số điện thoại 0945.452.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Rồng bmt” để liên lạc với L, sử dụng tài khoản số 0231000637252 mang tên Nguyễn Văn R và tài khoản số 0231000671573 mang tên Dương Thị Hải Y (vợ của ông R) cùng mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V5) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 03/6/2022 đến ngày 15/02/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với ông R về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện Cư M'gar, C, K, L2, Ea H'leo, Krông B, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và một số thửa đất không xác định địa chỉ cụ thể, ông R đã thực hiện 137 lượt chuyển khoản tổng số tiền 23.093.500.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 13/6/2022 đến ngày 05/4/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 103 lượt cho ông R với tổng số tiền 22.990.380.000 đồng. L đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn R số tiền là 103.120.000 đồng (23.093.500.000₫ - 22.990.380.000₫). Ngày 25/4/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, ông R đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Từ ngày 04/5/2023 đến 15/9/2023, L đã chuyển trả tiền 04 lượt cho ông R với tổng số tiền 46.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
  5. 3

  6. Đối với bà Nguyễn Thị Hiền T: Bà T sử dụng số điện thoại 0906.572.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Chang Chang” để liên lạc với L, sử dụng các tài khoản mang tên Nguyễn Thị Hiền T gồm tài khoản số 0906572939, 340011866866 và số 9713599052024 mang tên Nguyễn Thị Hiền T cùng mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M1) để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 02/8/2022 đến ngày 18/4/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với bà T về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện K, C, L2, Ea H'leo, K, tỉnh Đắk Lắk và một số thửa đất không xác định địa chỉ cụ thể, bà T đã thực hiện 29 lượt chuyển khoản tổng số tiền 3.590.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 13/9/2022 đến ngày 22/4/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 19 lượt cho bà T với tổng số tiền 2.932.600.000 đồng. L đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Hiền T số tiền 657.400.000 đồng (3.590.000.000₫ - 2.932.600.000₫). Ngày 08/5/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản bà T làm đơn tố cáo L gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Sau đó, L đã chuyển trả tiền 04 lượt cho bà T với tổng số tiền 10.800.000 đồng để khắc phục hậu quả.
  7. Đối với ông Lê V2: Vào năm 2022, Đoàn Thị L thường xuyên đến Cửa hàng quần áo của ông V2 (Shop S) để mua sắm và làm quen. Sau đó L vận động ông Vũ g vốn đầu tư kinh doanh chuyển nhượng quyền sử dụng đất để kiếm lợi nhuận và ông V2 đồng ý. Ông V2 sử dụng tài khoản số 0344.158.158 mang tên Lê Vũ t Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M1) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 18/6/2022 đến ngày 18/3/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với ông V2 về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện K, Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk và một số thửa đất không xác định địa chỉ cụ thể, ông V2 đã thực hiện 10 lượt chuyển khoản tổng số tiền 1.200.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 02/8/2022 đến ngày 15/02/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và hoa hồng, lợi nhuận 07 lượt cho ông V2 với tổng số tiền 1.144.000.000 đồng. L đã chiếm đoạt của ông Lê Vũ s tiền 56.000.000 đồng (1.200.000.000₫ - 1.144.000.000đ). Ngày 08/5/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, ông V2 đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Sau đó, L đã chuyển trả cho ông Lê Vũ s tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
  8. 4

  9. Đối với bà Trần Thị Bích D: Bà D sử dụng số điện thoại thuê bao 0943.714.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Trần Diệu” để liên lạc với L, sử dụng tài khoản số 0943714949 mang tên Trần Thị Bích D tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 (O) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 28/6/2022 đến ngày 03/4/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với bà D về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện C, K, L2, Ea H'leo, Krông B, thành phố B và một số thửa đất không xác định địa chỉ cụ thể, bà D đã thực hiện 44 lượt chuyển khoản tổng số tiền 6.240.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 29/6/2022 đến ngày 22/4/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 34 lượt cho bà D với tổng số tiền 5.461.200.000 đồng. L đã chiếm đoạt của bà Trần Thị Bích D số tiền 778.800.000 đồng (6.240.000.000₫ - 5.461.200.000đ). Ngày 08/5/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, bà D đã làm đơn tố cáo L gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Sau đó, L đã chuyển trả tiền 04 lần cho bà D với tổng số tiền 20.600.000 đồng để khắc phục hậu quả.
  10. Đối với ông Trần Ngọc Hoàng P: Ông P sử dụng số điện thoại 0948.040.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Hoàng Phú” để liên lạc với L, sử dụng các tài khoản mang tên Trần Ngọc Hoàng P gồm tài khoản số 0231000601102 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V5) Chi nhánh Đ và tài khoản số 77773599999 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 (T5) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 13/6/2022 đến ngày 28/3/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với ông P về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện C, C, Krông B1, Ea H'leo, L2, K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Gia Lai và một số thửa đất không xác định địa chỉ cụ thể, ông P đã thực hiện 56 lượt chuyển khoản tổng số tiền 7.460.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 20/7/2022 đến ngày 07/3/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và hoa hồng, lợi nhuận 40 lượt cho ông P với tổng số tiền 6.864.500.000 đồng. L đã chiếm đoạt của ông Trần Ngọc Hoàng P số tiền 595.500.000 đồng (7.460.000.000₫ - 6.864.500.000₫). Ngày 08/5/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, ông P đã làm đơn tố cáo L gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Sau đó, L đã trả cho ông P tổng số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
  11. 5

  12. Đối với ông Nguyễn Hữu T1: Ông T1 sử dụng số điện thoại 0947.947.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Triều Nguyễn” để liên lạc với L, sử dụng tài khoản số 3590123499999 mang tên Nguyễn Hữu T1 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M1) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 19/10/2022 đến ngày 05/4/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với ông T1 về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện K, L, Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Gia Lai, ông T1 đã thực hiện 05 lượt chuyển khoản tổng số tiền 500.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 26/10/2022 đến ngày 16/3/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 03 lượt cho ông T1 với tổng số tiền 459.000.000 đồng. Đoàn Thị L đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Hữu T1 số tiền 41.000.000 đồng. Ngày 18/5/2023, khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, ông T1 đã làm đơn tố cáo Đoàn Thị L gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
  13. Đối với bà Nguyễn Thị T: Bà T sử dụng số điện thoại 0793.379.xxx đăng ký tên tài khoản Zalo “Thu T” để liên lạc với L, sử dụng các tài khoản mang tên Nguyễn Thị T gồm tài khoản số [...] tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 (V4) Chi nhánh Đ, tài khoản số 3585858686 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (T6) Chi nhánh Đ, tài khoản số 19858686866 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M1) Chi nhánh Đ, để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 29/8/2022 đến ngày 07/3/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với bà T về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất tại các huyện K, C, L2, Ea H'leo, K, thành phố B, bà T đã thực hiện 28 lượt chuyển khoản tổng số tiền 2.790.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 19/10/2022 đến ngày 23/3/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 19 lượt cho bà T với tổng số tiền 2.460.700.000 đồng. L đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị T số tiền 329.300.000 đồng (2.790.000.000₫ - 2.460.700.000₫). Ngày 08/5/2023 khi phát hiện L có hành vi chiếm đoạt tài sản, bà T đã làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
  14. 6

  15. Đối với bà Lâm Thị Q: Bà Q sử dụng tài khoản số 63110000379514 mang tên Lâm Thị Q tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (B2) Chi nhánh Đ để giao dịch chuyển, nhận tiền với L. Từ ngày 06/6/2022 đến ngày 21/02/2023, L đưa ra thông tin gian dối và thoả thuận với bà Q về việc góp vốn đầu tư, đặt cọc các thửa đất không xác định địa chỉ cụ thể, bà Q đã thực hiện 18 lượt chuyển khoản tổng số tiền 2.116.000.000 đồng đến tài khoản của L. Từ ngày 09/12/2022 đến ngày 11/4/2023, L đã chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận 11 lượt cho bà Q với tổng số tiền 1.436.500.000 đồng. L đã chiếm đoạt của bà Lâm Thị Q số tiền 679.500.000 đồng (2.116.000.000₫ - 1.436.500.000₫). Ngày 03/5/2023, bà Q làm đơn tố cáo L gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.

Số tiền chiếm đoạt có được, Đoàn Thị L đã sử dụng chi tiêu cá nhân (không nhớ đã chi tiêu vào việc gì, số tiền cụ thể bao nhiêu, thời gian nào) và trả nợ cá nhân, cụ thể như sau:

  • Trả nợ số tiền đã mượn trước đó cho bà Nguyễn Thị M, địa chỉ: đường T, thành phố B, số điện thoại 0941.460.xxx là 35.000.000 đồng; trả nợ cho ông Nguyễn Viết T2, địa chỉ: đường G, thành phố B (hiện tại ông T2 đã chết) số tiền 325.000.000 đồng; trả nợ vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B3 Chi nhánh Đ, là khoản vay do ông Nguyễn Xuân K là chồng của L mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố chồng là ông Nguyễn Xuân V3, sinh năm 1956, trú tại: Thôn H, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đầu tư kinh doanh, đến kỳ trả lãi ngân hàng thì L có giúp chồng trả tiền (không nhớ trả bao nhiêu lần, vào thời gian nào, số tiền cụ thể mỗi lần là bao nhiêu).
  • Năm 2022, L cùng chồng là Nguyễn Xuân K mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger do Nguyễn Xuân K đứng tên đăng ký với số tiền 625.000.000 đồng bằng hình thức trả góp. L đã dùng số tiền chiếm đoạt của các cá nhân để trả tiền mua xe với số tiền 368.380.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Công ty F. Số tiền còn lại L trả góp hàng tháng gồm tiền gốc và lãi vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q2 (V6) Chi nhánh Đ do chồng L là Nguyễn Xuân K đứng tên khoản vay. Đến tháng 5/2023, L và chồng bán chiếc xe ô tô này cho một người đàn ông (không nhớ người mua xe tên gì, ở đâu) với số tiền hơn 500.000.000 đồng (không nhớ rõ số tiền cụ thể), L đã dùng toàn bộ số tiền này tất toán khoản vay của chồng tại Ngân hàng V6 Chi nhánh Đ vào ngày 04/5/2023 và rút tài sản là Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 47C-284.55, số tiền còn lại L dùng để trả nợ. Kết quả tra cứu, cung cấp tài liệu thể hiện: Phòng C2 Công an tỉnh Đ đã cấp Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 47 024659 ngày 28/6/2022, tên chủ xe: Nguyễn Xuân K, Nhãn hiệu Ford Ranger, Biển số 47C-284.55; Căn cứ Hợp đồng mua bán xe về việc Nguyễn Xuân K bán chiếc xe ô tô nêu trên cho ông Nguyễn Văn T3 (Địa chỉ: Số C N, phường T, thành phố B; được chứng nhận ngày 05/5/2023 tại Văn phòng C3, thành phố B), Hợp đồng mua bán xe về việc ông Nguyễn Văn T3 bán chiếc xe ô tô nêu trên cho ông Nguyễn Hữu L3 (địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, Thị xã B, tỉnh Đắk Lắk) được chứng nhận ngày 18/5/2023 tại Văn phòng C3); Ngày 19/5/2023, Phòng C2 Công an tỉnh Đ đã ban hành Giấy Chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe 47C-284.55 từ ông Nguyễn Xuân K và sang tên cho chủ xe mới là ông Nguyễn Hữu L3. Kết quả tra cứu trên hệ thống đăng ký quản lý xe mô tô, ô tô của Cục C4 (theo Công văn số 78/PC08-Đ3 ngày 30/5/2023 của Phòng C2 Công an tỉnh Đ) xác định: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1992, và ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1989, trú tại: Thôn H, xã C, TP . không đứng tên sở hữu xe mô tô, ô tô nào.

7

Tại Bản kết luận giám định số 645/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Đoàn Thị L dưới mục “Người làm đơn”, “Người viết giấy”, “BÊN A” trên các Giấy xác nhận đề ngày 23/4/2023 và Hợp đồng góp vốn kinh doanh đề ngày 01/6/2022 so với chữ ký, chữ viết mang tên Đoàn Thị L trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 17/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt:

Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị L 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Bản án sơ thẩm còn có quyết định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, quyền, nghĩa vụ thi hành án và án phí.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 27/5/2024, bị hại Lê Thị V kháng cáo cho rằng mức hình phạt 13 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L là quá nhẹ, yêu cầu cấp phúc thẩm tăng hình phạt với bị cáo L.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị hại Lê Thị V giữ nguyên kháng cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
    • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.
    • + Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

8

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét hỏi và tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy:

[1] Bị cáo L đang tại ngoại, vắng mặt có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Luật sư bào chữa cho bị cáo L vắng mặt, có gửi Luận cứ bào chữa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo L như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[2] Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 4/2023, bị cáo Đoàn Thị L đã đưa ra thông tin gian dối là bị cáo đang làm việc cho 01 Công ty kinh doanh bất động sản tại Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều dự án lớn và lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh chuyển nhượng quyền sử dụng đất rất cao để vận động, kêu gọi các bị hại đầu tư góp vốn với L kinh doanh bất động sản. Để tạo lòng tin để mọi người chuyển tiền góp vốn kinh doanh, thời gian đầu L nhận tiền đầu tư của các cá nhân, rồi chuyển trả tiền đầu tư gốc và tiền hoa hồng, lợi nhuận đúng thời hạn thỏa thuận bằng hình thức lấy một phần tiền của người đầu tư trước trả lợi nhuận cho họ, khi có người đầu tư sau thì L lấy tiền trả cho người đầu tư trước. Với thủ đoạn gian dối trên, bị cáo Đoàn Thị L đã chiếm đoạt tài sản của 10 bị hại tổng số tiền 4.295.920.000 đồng, trong đó chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn L1 437.300.000 đồng, của bà Lê Thị V 618.000.000 đồng, của ông Nguyễn Văn R 103.120.000 đồng, của bà Nguyễn Thị Hiền T 657.400.000 đồng, của ông Lê Vũ 5 đồng, của bà Trần Thị Bích D 778.800.000 đồng, của ông Trần Ngọc Hoàng P 595.500.000 đồng, của ông Nguyễn Hữu T1 41.000.000 đồng, của bà Nguyễn Thị T 329.300.000 đồng và của bà Lâm Thị Q 679.500.000 đồng. Vì L có hành vi như trên, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đoàn Thị p vào “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự (Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”) là đúng tội, đúng khung hình phạt.

[3] Bị cáo L thực hiện nhiều lần phạm tội, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc L phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xét bị cáo L, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường được một phần thiệt hại cho các bị hại; khi phạm tội bị cáo L là phụ nữ có thai và hiện đang nuôi con nhỏ; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hnh sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khung 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù từ mười hai năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, Tòa án cấp sơ thẩm xét bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt bị cáo L 13 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo L, mà chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là giữ nguyên bản án sơ thẩm.

9

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Thị V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, cụ thể:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị L 13 (mười ba) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Các quyết định còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đặng Kim Nhân

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 359/2024/HS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 359/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Thị V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger