|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 358/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà.
Bà Ngô Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 277/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa, Quyết định tạm ngừng, Thông báo thời gian mở phiên tòa, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Vũ Ngọc L, sinh ngày 19/5/1984.
ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm C, thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y), sinh ngày 20/12/1982.
Quê quán: Thôn Q, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm C, thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Chỗ ở hiện nay: Đài Loan; hiện đang có mặt tại Việt Nam.
Các đương sự vắng mặt và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Vũ Ngọc L trình bày: Anh và chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh H ngày 30/10/2013. Trước khi kết hôn anh, chị quen biết và chung sống với nhau tại Đài Loan. Năm 2010 anh chị về nước và sinh con, đồng thời chung sống với nhau tại gia đình nhà chồng. Sau khi sinh con vợ chồng quay lại Đài Loan làm việc, chị H đã làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam để nhập Quốc tịch Đài Loan, từ đó chị đổi tên Việt Nam Hoàng Thị H thành tên Đài Loan Huang Y. Năm 2013, anh chị về Việt Nam để thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh H và đến Văn phòng K tại Hà Nội để thực hiện việc đăng ký kết hôn với người Đài Loan (Huang Y) nhưng anh bị bác bỏ hồ sơ do không qua phỏng vấn. Từ đó chị Hoàng Thị H (Huang Y) tiếp tục sang Đài Loan làm việc cho đến nay, còn anh không xuất cảnh sang Đài Loan được nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2013. Do mỗi người sống một nơi thời gian quá dài nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần và không còn. Nay anh xác định vợ chồng không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị H (Huang Y).
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Vũ Hoàng Phương A, sinh ngày 01/8/2010, hiện con đang ở với anh. Anh đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) và anh tự nguyện không yêu cầu chị Hoàng Thị H (Huang Y) phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại các bản khai chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) trình bày: Chị và anh Vũ Ngọc L có quan hệ hôn nhân như anh L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn tại Việt Nam, anh chị cùng đến Văn phòng K tại Hà Nội để thực hiện việc đăng ký kết hôn nhưng anh L không qua phỏng vấn nên không thể xuất cảnh sang Đài Loan được, còn chị tiếp tục sang Đài Loan làm việc. Vợ chồng mỗi người một nơi và sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, tuy nhiên anh chị vẫn có trách nhiệm với nhau. Từ năm 2021, chị chưa xác định có về nước hay không chính vì vậy anh chị thống nhất chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nay, anh L có đơn xin ly hôn, chị cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí ly hôn.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có một con chung Vũ Hoàng Phương A, sinh ngày 01/8/2010 như anh L trình bày là đúng. Hiện con đang ở với anh L, chị tôn trọng quyền quyết định của con, con có nguyện vọng được ở với anh L, chị nhất trí. Anh, chị tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị và anh L tự thống nhất thỏa thuận nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con chung của anh L và chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) là cháu Vũ Hoàng Phương A có nguyện vọng được ở với anh L.
Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh Linh, chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) sinh sống thể hiện: Trước khi kết hôn, anh L và chị H có thời gian chung sống với nhau tại gia đình anh L và sinh con. Sau khi sinh con anh chị tiếp tục đi lao động ở nước ngoài sau đó về địa phương xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để thực hiện việc đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn anh L sống tại địa phương còn chị H đi lao động ở nước ngoài, vợ chồng sống xa cách mỗi người một nơi trong thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Nay anh L có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Ngọc L ly hôn chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y). Về con chung: Giao con chung Vũ Hoàng Phương A cho anh L tiếp tục, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh L1 phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn anh Vũ Ngọc L hiện đang sinh sống tại Việt Nam. Bị đơn chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) có nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại xóm C, thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện chị đang làm ăn, sinh sống và có quốc tịch Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Quá trình giải quyết vụ án, chị H về nước; anh L và chị H đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Ngọc L và chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh H ngày 30/10/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh H, anh L không qua phỏng vấn tại Văn phòng K tại Hà Nội và không xuất cảnh sang Đài Loan được. Chị Hoàng Thị H (Huang Y) tiếp tục sang Đài Loan làm việc. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, mỗi người một nơi nên tình cảm vợ chồng phai nhạt. Anh Linh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn. Chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) về Việt Nam để thực hiện việc ly hôn. Chị xác định mặc dù sống xa cách từ năm 2013 cho đến nay, nhưng anh chị vẫn có trách nhiệm với nhau, kể từ năm 2021 anh chị thống nhất chấm dứt quan hệ hôn nhân. Do vậy anh L xin ly hôn, chị hoàn toàn nhất trí. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh L và chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh L được ly hôn chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y).
[2.2] Về quan hệ con chung: Anh L1 và chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) có 01 con chung là Vũ Hoàng Phương A, sinh ngày 01/8/2010, hiện con đang ở với anh L1. Anh L1 và chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) cùng có quan điểm thống nhất, anh L1 có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Con chung Vũ Hoàng Phương A có nguyện vọng được ở với anh L1. Hội đồng xét xử xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do vậy, cần chấp nhận thỏa thuận của anh chị giao con chung cho anh L1 chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh L1 không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh L1, chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh Vũ Ngọc L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Ngọc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Ngọc L ly hôn chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y).
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Vũ Ngọc L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Vũ Hoàng Phương A, sinh ngày 01/8/2010 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yêu cầu chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về án phí: Anh Vũ Ngọc L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được đối trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số AA/2022/0000816 ngày 14/6/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh L1 đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Ngọc L và chị Hoàng Thị H (tên gọi khác: Huang Y) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Trường |
Bản án số 358/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 358/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Vũ Ngọc L xin ly hôn chị Hoàng Thị H
