Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 358/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26-12-2023

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Ông Trần Ngọc Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2023/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 382/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Vân N, sinh năm 1983;
  • Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Tổ E T, xã X, huyện C, thành phố Hà Nội;
  • Địa chỉ cư trú hiện nay: Peter S, 47877 W, D, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Sỹ Q, sinh năm 1994;
  • Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm N, xã S, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
  • Địa chỉ cư trú hiện nay: Peter S, 47877 W, D, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Bùi Thị Vân N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Sỹ Q quen biết nhau tại Cộng hòa liên bang Đ và sống chung với nhau như vợ chồng, có 01 con chung. Đến ngày 19/6/2019, chị và anh Q mới đi đăng ký kết hôn tại T tại Frank furt am M, Cộng hòa liên bang Đ trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian. Đến tháng 7/2022 thì xảy ra mâu thuẫn thường xuyên do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm. Hiện tại, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Sỹ Q.

Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Bùi Nguyễn Minh Khang K, sinh ngày 12/8/2018. Hiện con chung đang ở với chị và được chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Q tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Bùi Thị Vân N đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đ. Vào ngày 15/11/2023, chị về Việt Nam nộp đơn ly hôn và các tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Do công việc, chị phải trở về nước Đ nên chị đã ủy quyền cho chị Trần Thị Quỳnh C, sinh năm 2002; địa chỉ cư trú: Xóm N, xã S, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhận các văn bản của Tòa án và gửi cho chị. Đồng thời, chị có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Theo bản tự khai, đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ2 tại Cộng hòa liên bang Đức), bị đơn anh Nguyễn Sỹ Q trình bày:

Anh và chị Bùi Thị Vân N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại T tại Frankfurt am Main, Cộng hòa liên bang Đ vào ngày 19/6/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau được một thời gian. Đến tháng 02/2023 thì xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, do bất đồng quan điểm, cuộc sống luôn có xung đột, dẫn đến hai bên đều mệt mỏi. Nay chị N làm đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh và chị N có 01 con chung Bùi Nguyễn Minh Khang K, sinh ngày 12/8/2018. Hiện con chung đang ở với chị N và được chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng để chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị Ngọc t thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Sỹ Q hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đ không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho anh Trần Lê Anh Đ1, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: Xóm T, xã S, huyện Y, tỉnh Nghệ An nộp tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án gửi cho anh. Đồng thời, anh có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị Vân N đang cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ1 đã về Việt Nam nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Sỹ Q có địa chỉ cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ; trước xuất cảnh, anh Q có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Theo quy định khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Bùi Thị Vân N đang cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ1. Vào ngày 15/11/2023, chị N về Việt Nam và nộp đơn ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Do công việc, chị N phải trở về nước Đ1 nên chị đã ủy quyền cho chị Trần Thị Quỳnh C, sinh năm 2002; địa chỉ cư trú: Xóm N, xã S, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Sỹ Q đang cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ1 không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh Q đã ủy quyền cho anh Trần Lê Anh Đ1, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: Xóm T, xã S, huyện Y, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Đồng thời, anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q quen biết nhau tại nước Cộng hòa liên bang Đ, sống chung với nhau như vợ chồng và có 01 con chung. Đến ngày 19/6/2019, chị N và anh Q mới đi đăng ký kết hôn tại T tại Frank furt am M, Cộng hòa liên bang Đ, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian. Đến tháng 7/2022 thì xảy ra mâu thuẫn thường xuyên do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, cuộc sống luôn có xung đột, dẫn đến hai bên đều mệt mỏi. Hiện tại, chị N và anh Q đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị N nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Bùi Thị Vân N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q có 01 con chung. Nay ly hôn, chị N và anh Q thỏa thuận: Chị Bùi Thị Vân N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Bùi Nguyễn Minh Khang K, sinh ngày 12/8/2018 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh Q tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Bùi Thị Vân N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, Điều 207; khoản 1 Điều 228; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Bùi Thị Vân N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q được ly hôn.
  2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:

    Chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q có 01 con chung;

    Giao cho chị Bùi Thị Vân N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Bùi Nguyễn Minh Khang K, sinh ngày 12/8/2018 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh Q tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Sỹ Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Bùi Thị Vân N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001385 ngày 29/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Bùi Thị Vân N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Vân N và anh Nguyễn Sỹ Q có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Frank furt am Main, Cộng hòa liên bang Đức;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 358/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 358/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Bùi Thị Vân N, Nguyễn Sỹ Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger