Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 358/2024/HS-ST

Ngày 04-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Cường;
  2. Ông Tô Văn Nhung.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 348/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 374/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn C, sinh năm 1986 tại tỉnh Quảng Bình; thường trú: Thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; tạm trú: Số D đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Võ Thị K (đã chết); bị cáo có 09 anh, chị ruột; bị cáo có vợ đã ly hôn, có 01 con ruột, sinh năm 2014;
  2. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2024 đến ngày 01/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2024 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn M, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số D đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
  4. con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1964; có vợ tên Bùi Thị H1, sinh năm 1991, có 02 con ruột, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2022;

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2024 đến ngày 01/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2024 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  5. Phan Văn T1, sinh năm 1973 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Thôn Q, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: C16.10 Block C, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan T2, sinh năm 1943 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1946; có vợ tên Lê Thị Hồng H2, sinh năm 1973, có 02 con ruột, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2011;
  6. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2024 đến ngày 01/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2024 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  7. Lê Mai H3, sinh năm 1994 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: Số D đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Mai D, sinh năm 1960 và bà Võ Thị L2, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ con;
  8. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2024 đến ngày 01/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2024 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  9. Lưu Ngọc K1, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Tổ B, khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: Số C đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Quốc K2, sinh năm 1958 và con bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1966; bị cáo có chồng đã ly hôn, không có con;
  10. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/8/2024 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Thế S, sinh năm 1972; thường trú: Số C đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 23/7/2024, Nguyễn Văn C, Phan Văn T1 và Lê Mai H3 đến quán cà phê N tại địa chỉ: Số nhà C, đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để uống cà phê. Sau đó, C, T1 và H3 rủ nhau chơi đánh bài cào liêng tố thắng, thua bằng tiền. Cùng lúc, Nguyễn Văn C nhờ Lưu Ngọc K1 là người quản lý và bán cà phê cho khách tại quán cà phê N mua 01 bộ bài tây 52 lá để chơi Đánh bài thì K1 đồng ý. K1 đến tiệm tạp hóa của chị Đoàn Thị Thu T3 mua 02 bộ bài Tây mang về đưa cho C 01 bộ bài, còn 01 bộ bài K1 để trên bàn.

Ngay sau đó, C, T1 và H3 sử dụng 01 bàn cờ tướng bằng gỗ, đặt trên 01 bàn gỗ để làm chiếu bạc và đặt tiền thắng, thua. Hình thức chơi đánh bài cào liêng tố thắng, thua bằng tiền như sau: Mỗi người chia 03 lá bài và tính điểm thắng, thua, người chia bài đặt trước số tiền 40.000 đồng, người ngồi bên phải người chia bài đặt số tiền 60.000 đồng, người bên phải kế tiếp đặt số tiền 80.000 đồng và người cuối cùng đặt số tiền 80.000 đồng, đến người chia bài sẽ phải bỏ ra số tiền 40.000 đồng. Ngoài ra, có thể tố thêm một số tiền khác từ 20.000 đồng đến 300.000 đồng, lần lượt những người còn lại sẽ theo, tố thêm tiền hoặc úp bỏ bài.

Nguyễn Văn C, Phan Văn T1 và Lê Mai H3 đang chơi đánh bạc đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì có Nguyễn Văn H đến quán cà phê N để uống cà phê và tham gia chơi đánh bạc cùng.

Đến 13 giờ 30 phút, ngày 23/7/2024, Lực lượng Công an phường D, thành phố D phát hiện Nguyễn Văn C, Phan Văn T1, Lê Mai H3 và Nguyễn Văn H đang có hành vi chơi đánh bài cào liêng tố thắng, thua bằng tiền nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 6.600.000 đồng trên chiếu bạc; 01 bộ bài Tây, 01 bàn gỗ và 01 bàn cờ tướng.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn C, Phan Văn T1, Lê Mai H3, Nguyễn Văn H và Lưu Ngọc K1 khai nhận cụ thể như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 23/7/2024, C cùng với H3 và T1 đến quán cà phê N, tại địa chỉ: Số nhà C, đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để uống cà phê. Tại đây, C nhờ Lưu Ngọc K1 là người quản lý quán và bán cà phê cho khách mua 01 bộ bài Tây 52 lá để chơi đánh bài cào liêng tố thắng, thua bằng tiền. Lưu Ngọc K1 đồng ý và sử dụng 20.000 đồng là

tiền của K1 đi mua 02 bộ bài tây, K1 đưa cho C 01 bộ, còn 01 bộ để trên bàn bên cạnh. C mang theo số tiền 2.500.000 đồng và sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi đánh bạc, C thắng được số tiền 110.000 đồng. H3 mang theo số tiền 2.400.000 đồng và sử dụng số tiền 2.400.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi đánh bạc, H3 thua số tiền 1.350.000 đồng. T1 mang theo số tiền 600.000 đồng và sử dụng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi đánh bạc, T1 thắng được số tiền 410.000 đồng. Đến 12 giờ 30 phút, ngày 23/7/2024, H đi một mình đến quán cà phê N thì gặp H3, T1 và C đang chơi đánh bài thắng, thua bằng tiền nên H tham gia chơi đánh bạc cùng với H3, T1 và C. Quá trình chơi bài, H gọi K1 mang nước ra bàn cho H và nhìn thấy cả 04 người đánh bài thắng thua bằng tiền do tiền sử dụng đánh bạc đều để trên bàn trước mặt. H mang theo số tiền 1.100.000 đồng và sử dụng số tiền 1.100.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi đánh bạc, H thắng số tiền 830.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Lực lượng Công an phường D tuần tra phát hiện C, T1, H, H3 có hành vi đánh bạc thắng, thua bằng tiền nên lập biên bản và đưa về trụ sở làm việc. Khi lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ của Nguyễn Văn C số tiền 2.610.000 đồng, thu giữ của H3 số tiền 1.050.000 đồng, thu giữ của T1 số tiền 1.010.000 đồng, thu giữ của H số tiền 1.930.000 đồng trên chiếu bạc.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) bàn cờ tướng, 01 (một) bàn gỗ và số tiền đánh bạc 6.600.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 342/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Phan Văn T1, Lê Mai H3, Lưu Ngọc K1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xử phạt bị cáo Phan Văn T1 từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xử phạt bị cáo Lê Mai H3 từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề xử phạt bị cáo Lưu Ngọc K1 từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.
  • * Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    • Đối với số tiền 6.600.000 đồng, là tiền các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Phan Văn T1, Lê Mai H3 sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
    • Đối với 01 (một) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) bàn cờ tướng sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy;
    • Đối với 01 bàn gỗ là tài sản của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thế S nên đề nghị trả lại cho ông S.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến về điều luật áp dụng và xử lý vật chứng, tuy nhiên các bị cáo có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt: Mức hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị quá cao không tương xứng với hành vi của các bị cáo đã thực hiện. Đồng thời lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 23/7/2024 Nguyễn Văn C, Phan Văn T1, Lê Mai H3 và Nguyễn Văn H sử dụng 01 (một) bộ bài tây 52 lá tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi bài cào

liêng tố thắng, thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo sử dụng số tiền 6.600.000 đồng để tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi bài cào liêng tố thắng, thua bằng tiền đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Phan Văn T1, Lê Mai H3 và Nguyễn Văn H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Lưu Ngọc K1 cung cấp 01 bộ bài tây 52 lá, cho các đối tượng sử dụng địa điểm của mình quản lý để các bị cáo C, H3, T1, H đánh bạc đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 342/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án có tính đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Bị cáo C là người nhờ bị cáo K1 chuẩn bị bộ bài tây 52 lá và sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với các bị cáo khác, bị cáo K1 mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng sử dụng địa điểm do mình quản lý và cung cấp 01 bộ bài tây 52 lá nên phải chịu mức hình phạt bằng các bị cáo H3, H, T1.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo Lưu Ngọc K1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn có giấy chứng nhận hộ cận nghèo; bị cáo Phan Văn T1 có vợ hiện đang bị bệnh ung thư; bị cáo Nguyễn Văn H hiện nay đang nuôi con nhỏ và các

bị cáo là lao động chính trong gia đình, vì vậy các bị cáo K1, T1, H có thêm tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và là người lao động.

[8] Về hình phạt:

+ Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú và làm việc rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt và là người lao động, hơn nữa trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, thời gian tạm giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 131, 132, 133, 134, 135/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Nguyễn Văn C, Phan Văn T1, Lê Mai H3, Nguyễn Văn H, Lưu Ngọc K1 .

+ Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 6.600.000 đồng, là tiền các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Phan Văn T1, Lê Mai H3 sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) bàn cờ tướng sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 bàn gỗ là tài sản của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thế S nên trả lại cho ông S.

[10] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng mức hình phạt có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát.

[11] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Phan Văn T1, Lê Mai H3, Nguyễn Văn H, Lưu Ngọc K1 phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

    2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      - Xử phạt bị cáo Phan Văn T1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      - Xử phạt bị cáo Lê Mai H3 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

    4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

    5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      - Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc K1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

    Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 131, 132, 133, 134, 135/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

  2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 6.600.000 đồng (đã chuyển vào tài khoản số 39490104590400000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 18/10/2024).
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) bàn cờ tướng.
    • Trả cho ông Phạm Thế S 01 bàn gỗ.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/10/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Các bị cáo Nguyễn Văn C, Phan Văn T1, Lê Mai H3, Nguyễn Văn H, Lưu Ngọc K1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (03);
  • - Chi cục thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Người tham gia tố tụng (63);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - THA hình sự (04);
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú (03);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 358/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 358/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Cảnh + đp phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger