Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 358/2024/HN-ST

Ngày: 30-09-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Hà Công Tâm;
  2. Bà Bùi Thị Thúy Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ lách tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 275/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế N, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: 326 ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Bà Trang Bích T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: 219/17 tổ G ấp H xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn ông Nguyễn Thế N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trang Bích T tự nguyện kết hôn vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 25/01/2016. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ, chồng nên hôn nhân mất dần đi hạnh phúc, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Hiện ông và bà T đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Ngyễn Thế T1, sinh ngày 05/08/2017 và Nguyễn Ngọc Kim C, sinh ngày 31/07/2019, hiện cháu Ngyễn Thế T1 đang sống chung với ông, còn Nguyễn Ngọc Kim C đang sống chung với bà T. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu Ngyễn Thế T1, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con; còn Nguyễn Ngọc Kim C ông đồng ý để cho bà Tuyền H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ông sẽ không cấp dưỡng nuôi con.

  • Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án:
    • Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thế N đối với bà Trang Bích T. Ghi nhận ông N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
    • Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên cho ông Nguyễn Thế N được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Ngyễn Thế T1, sinh ngày 05/08/2017; bà Trang Bích T được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Kim C, sinh ngày 31/07/2019. Ông N, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.
    • Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Thế N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Nguyên đơn ông Nguyễn Thế N có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa; đồng thời có đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được; còn bị đơn bà Trang Bích T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bà T vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào các Điều 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N, bà T.

  2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    • Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế N và bà Trang Bích T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 25/01/2016 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo ông N, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ, chồng. Nay ông N xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn với bà T.
    • Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông Nguyễn Thế N và bà Trang Bích T thực tế là có xảy ra và giữa hai người đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Với khoảng thời gian trên cũng đủ cho ông, bà suy nghĩ lại tình cảm vợ chồng thế nhưng cả hai cũng không tìm cho mình một biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tiến hành thông báo cho bà T đến tham hòa giải nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng bà T không có mặt. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông N và bà T là đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất nhằm đem lại tự do cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thế N đối với bà Trang Bích T là phù hợp theo quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận ông Nguyễn Thế N không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

    • Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, ông Nguyễn Thế N và bà Trang Bích T có 02 người con chung tên Ngyễn Thế T1, sinh ngày 05/08/2017 và Nguyễn Ngọc Kim C, sinh ngày 31/07/2019. Hiện cháu Ngyễn Thế T1 đang sống chung với ông N, còn Nguyễn Ngọc Kim C đang sống chung với bà T. Sau khi ly hôn, ông N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu Ngyễn Thế T1, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con; còn Nguyễn Ngọc Kim C ông N đồng ý để cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ông sẽ không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu cầu được nuôi con chung của ông N là chính đáng, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Thế T2; còn cháu Nguyễn Ngọc Kim C hiện còn nhỏ (dưới 07 tuổi) và là con gái nên cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Vì vậy việc giao cháu Ngyễn Thế T1 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Nguyễn Ngọc Kim C cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con chung và quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên được xem xét chấp nhận. Ông N và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.
    • Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Thế N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Thế N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 147, 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thế N đối với bà Trang Bích T. Cụ thể tuyên:

    Ông Nguyễn Thế N được ly hôn với bà Trang Bích T. Ghi nhận ông Nguyễn Thế N không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

  2. Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Thế N được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Ngyễn Thế T1, sinh ngày 05/08/2017 (phù hợp với nguyện vong của cháu T1); bà Trang Bích T được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Kim C, sinh ngày 31/07/2019. Ông N, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

    Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của ông N, bà T hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Ông Nguyễn Thế N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về nợ chung: Ông Nguyễn Thế N khai không có nên không xét đến.
  5. Về án phí:

    Ông Nguyễn Thế N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003269 ngày 08/08/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Chợ Lách;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Chợ Lách;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu HSVA+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Lê Chí Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 358/2024/HN-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 358/2024/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nhân yêu cầu ly hôn với bà Tuyền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger