|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 358/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 9 - 2024
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Mỹ Hải |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Hồ Cảnh |
| Ông Trần Xuân Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2024/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 370/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1993.
Nơi đăng ký HKTT: xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số C, ngõ B, ngách A, đường Đ, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phi B, sinh năm 1986.
Nơi đăng ký HKTT: xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
Địa chỉ cư trú hiện nay: 23-24, G Syeon, Sacheon-si, Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Phi B đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 02/02/2017 tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn được khoảng hơn 01 tháng thì anh B sang làm việc ở Hàn Quốc liên tục đến nay. Từ khi kết hôn đến nay anh B mới về thăm nhà được khoảng 04 lần, mỗi lần chỉ trong khoảng 01 tháng. Do đó, hai người chủ yếu liên lạc qua điện thoại để trò chuyện. Thời gian đầu sau khi kết hôn, mối quan hệ vợ chồng cũng bình thường. Nhưng sau đó do xa cách nhau, nên hai người cũng thường xuyên cãi nhau hơn vì bất đồng quan điểm, bất đồng trong chuyện tài chính khi anh B không chịu gửi tiền về để hỗ trợ việc chăm sóc, nuôi dạy con, mà tất cả vấn đề đối nội đối ngoại, con cái đều do mình chị T tự chủ động thực hiện, tự xoay sở T2. Anh B không quan tâm lo lắng cho vợ con để mặc vợ con sống sao thì sống, vì vậy, dân dần hai người ít liên lạc với nhau. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phi B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 17/09/2017. Hiện nay, con chung đang được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con gái Nguyễn Thị Ngọc D đến khi cháu 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con tạm thời chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Phi B: Anh B đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Anh đã nhận được thông báo về việc chị Trần Thị T nộp đơn ly hôn anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Do đó, anh đã gửi bản tự khai (Có xác nhận của Đ tại Hàn Quốc) đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An với nội dung trình bày: Anh và chị Trần Thị Thương Y nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 02/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đầm ấm. Tháng 03/2017 anh B tiếp tục sang Hàn Quốc làm việc, tuy nhiên đến thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do từ năm 2023, anh B và chị T bất đồng quan điểm về quản lý kinh tế của anh B, từ khi nước ngoài đến nay, anh B vẫn thường xuyên gửi tiền về chu cấp nuôi con và trang trải cuộc sống hằng ngày cho gia đình nhưng chị T không ghi nhận và cho rằng anh vô trách nhiệm, không lo toan cho gia đình. Từ đó, dẫn đến vợ chồng không còn sự tin tưởng lẫn nhau, không quan tâm nhau, không có tiếng nói chung, căng thẳng kéo dài. Mặc dù anh muốn hòa giải nhưng chị T không có nguyện vọng hàn gắn, tuy nhiên anh vẫn còn tình cảm với vợ, anh nghĩ trong cuộc sống hôn nhân thì không gia đình nào là không có mâu thuẫn, anh nhận thấy những mâu thuẫn vặt vãnh đó 02 vợ chồng có thể ngồi lại giải quyết với nhau chưa đến mức phải ly hôn và mặt khác anh B muốn giữ gìn gia đình trọn vẹn cho con. Vì vậy, nay chị T làm đơn yêu cầu ly hôn, anh B không đồng ý, mong Tòa án xem xét một cách thấu tình, đạt lý.
Về con chung: Anh và chị Trần Thị T có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 17/09/2017. Hiện nay cháu D đang ở cùng với chị T. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng nuôi con chung thì anh đồng ý. Còn về cấp dưỡng nuôi con, anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Phi B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, anh B đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc đi lại khó khăn, không có điều kiện về Việt Nam. Do đó, anh đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh. Đồng thời, anh ủy quyền cho mẹ là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963, địa chỉ: xóm X, xã D, huyện D, Nghệ An thay mặt anh giao, nhận các tài liệu, giấy tờ, văn bản tố tụng, quyết định, bản án của Tòa án. Bà Nguyễn Thị L sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phi B hiện cư trú tại Hàn Quốc; trước khi xuất cảnh, anh B có địa chỉ cư trú tại huyện D, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Nguyễn Phi B không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Phi B đang cư trú tại nước Hàn Quốc vắng mặt tại phiên tòa nhưng có gửi bản tự khai đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị Trần Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Phi B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 02/02/2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai người bất đồng quan điểm về quản lý tài chính gia đình. Mặc dù chị T đề nghị được ly hôn nhưng anh B không đồng ý và có nguyện vọng được đoàn tụ.
Xét thấy, sau khi kết hôn, chị T sinh sống và làm việc ở Việt Nam còn anh B tiếp tục sang Hàn Quốc làm việc, vợ chồng sống xa cách nhau và chủ yếu liên lạc qua điện thoại. Cả hai anh chị đều xác định vợ chồng không còn tiếng nói chung, căng thẳng kéo dài. Mặc dù anh B có nguyện vọng đoàn tụ nhưng chị T xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Phi B.
[3.2] Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Phi B có 01 con chung là Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 17/09/2017. Hiện nay cháu đang ở cùng chị T. Chị T và anh B đều thống nhất giao con chung cho chị Trần Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Phi B không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Phi B được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 17/09/2017 cho chị Trần Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Trần Thị T chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Phi B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Phi B không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012844 ngày 15/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; anh Nguyễn Phi B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 358/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 358/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Trần Thị T- Nguyễn Phi B
