|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 358/2024/HSPT Ngày: 07/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Ký
Ông Trần Thanh Phong
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền– Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Đ, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 234/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
Bị cáo kháng cáo:
Phạm Văn D, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1974 tại Tiền Giang.
Thường trú: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo.
Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm.
Con ông: Phan Văn K, sinh năm 1940 (đã chết); Con bà: Phạm Thị H, sinh năm 1941.
Vợ con bị cáo đã bỏ đi, địa phương không rõ.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 04 tiền án:
- Tại Bản án số 48/HSST ngày 10/6/2002, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 01/2008/HSPT ngày 11/01/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 59/2015/HSST ngày 27/5/2015, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc - tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 21/2020/HSST ngày 14/5/2020, Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc - tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt bị báo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt ngày 24/10/2023).
2
Nhân thân:
- Tại Bản án số 06/HSST ngày 07/01/1993, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 12 tháng.
- Tại Bản án số 87/HSST ngày 25/12/1995, Tòa án nhân dân huyện Long Khánh xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” của Bản án số 06/HSST ngày 07/01/1993, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 02 năm 02 tháng tù.
- Tại Bản án số 273/HSST ngày 29/7/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt ngày 29/10/2023 (đầu thú).
(Bị cáo có mặt; những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nội dung chính của vụ án:
- Quyết định của cấp sơ thẩm:
- Kháng cáo của bị cáo:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/10/2023, Phạm Văn D cùng với Nguyễn Bình L, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Nguyễn Văn L1, sinh năm 1979, trú tại ấp S, xã X, huyện C đến quán phở H1 của chị Lê Thị H2, sinh năm 1968 tại ấp C, xã X, huyện C để nhậu. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, D đi vào nhà vệ sinh của quán phở thì phát hiện trên kệ bồn rửa mặt có 01 điện thoại di động Iphone 11, màu trắng của chị H2 để quên trước đó nên đã lấy trộm nhằm mục đích đem về sử dụng. Sau đó, D mang về nhà cất giấu. Đến 11 giờ 30 phút ngày 29/10/2023, D đã đến Công an xã X để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện C, tỉnh Đồng Nai kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng có giá trị là 15.300.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị H2 sinh năm 1968 trú tại ấp C, xã X nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị H2 theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị H2 đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 25/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 29/10/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3
Ngày 04/5/2024, bị cáo Phạm Văn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, mẹ bị cáo hiện bị tai biến.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Về tố tụng: Bị cáo làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, vai trò, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo mức án 04 năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng:
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
- [3] Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/10/2023, tại quán “Phở Hằng” của chị Lê Thị H2 thuộc ấp C - xã X - huyện C - tỉnh Đồng Nai, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của chị Lê Thị H2 có giá trị là 15.300.000 đồng mang về nhà cất giấu để sử dụng. Sau đó, ngày 29/10/2023, bị cáo đã đến Công an xã X để đầu thú về hành vi của mình.
Tại Bản án số 21/2020/HSST ngày 14/5/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc - tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”; nay chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 năm tù là phù hợp, không nặng như đơn kháng cáo các bị cáo đã nêu.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mẹ bị cáo hiện bị tai biến nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
4
- [4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [5] Về án phí:
- [6] Về vấn đề khác:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Cấp sơ thẩm xác định các Bản án số 06/HSST ngày 07/01/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; Bản án số 87/HSST ngày 25/12/1995 của Tòa án nhân dân huyện Long Khánh và Bản án số 273/HSST ngày 29/7/1998 củaTòa án nhân dân tỉnh Đ xét xử đối với bị cáo là tiền án là chưa chính xác, do đó cấp phúc thẩm điều chỉnh lại 03 bản án nêu trên là nhân thân của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 343, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Không chấp nhận kháng cáo Phạm Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Lan Hương |
5
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán Đỗ Minh Nhựt Nguyễn Thị Ngọc Trí |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Lan Hương |
6
Bản án số 358/2024/HSPT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (phúc thẩm hình sự)
- Số bản án: 358/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Phúc thẩm hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Đ, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 234/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ. Bị cáo kháng cáo: Phạm Văn D, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1974 tại Tiền Giang. Thường trú: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo. Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm. Con ông: Phan Văn K, sinh năm 1940 (đã chết); Con bà: Phạm Thị H, sinh năm 1941. Vợ con bị cáo đã bỏ đi, địa phương không rõ. Tiền sự: Không. Tiền án: Có 04 tiền án: - Tại Bản án số 48/HSST ngày 10/6/2002, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. - Tại Bản án số 01/2008/HSPT ngày 11/01/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. - Tại Bản án số 59/2015/HSST ngày 27/5/2015, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc - tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. - Tại Bản án số 21/2020/HSST ngày 14/5/2020, Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc - tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt bị báo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt ngày 24/10/2023). Nhân thân: - Tại Bản án số 06/HSST ngày 07/01/1993, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 12 tháng. - Tại Bản án số 87/HSST ngày 25/12/1995, Tòa án nhân dân huyện Long Khánh xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” của Bản án số 06/HSST ngày 07/01/1993, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 02 năm 02 tháng tù. - Tại Bản án số 273/HSST ngày 29/7/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt ngày 29/10/2023 (đầu thú).
