|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 358/2024/DS-PT Ngày: 04/7/2024 V/v: “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phân chia di sản thừa kế” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Thắng;
Các Thẩm phán: Ông Phùng Hải Hiệp;
Bà Đặng Thị Thơm.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 44/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phân chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6884/2024/QĐ-PT, ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Gia T; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Huỳnh Đ, sinh năm 1979 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Văn B – Chủ tịch. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc V – Chuyên viên Phòng Tài nguyên môi trường huyện C. Vắng mặt.
2. Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức D - Công chức địa chính, xây dựng. Vắng mặt.
3. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
4. Bà Lê Thị C, sinh năm 1960; địa chỉ: P Chung cư E, Nguyễn Đức C1, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
5. Bà Lê Thị P1, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
6. Ông Lê Xuân P2; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
7. Ông Lê Quang H, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Lê Thị P và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bố mẹ nguyên đơn là cụ Lê Văn Ư và cụ Trương Thị L, sinh được 07 người con gồm: Lê Xuân P2, Lê Quang H, Lê Huỳnh Đ, Lê Thị P1, Lê Thị C, Lê Thị T1 và Lê Thị P. Lúc sinh thời, hai ông bà tạo lập được khối tài sản là 03 thửa đất gồm thửa đất số 47, tờ bản đồ số 24, diện tích 326,3 m²; thửa đất số 48, tờ bản đồ số 24, diện tích 232m² và thửa đất số 63, tờ bản đồ số 24, diện tích 494,7 m² cùng địa chỉ tại thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Thửa đất được bố mẹ của bà xây dựng nhà ở sinh sống ổn định cho đến khi qua đời (mẹ chết năm 1992, cha chết năm 2005). Hiện nay, ba thửa đất nói trên đã được nguyên đơn cùng ông Đ và ông H xây dựng nhà, có phân chia ranh giới ở ổn định từ lâu. Sau khi bố mẹ bà chết không để lại di chúc, ông Đ đã tự ý thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất) đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 24. Mọi thủ tục cấp GCNQSD đất đều không thông qua ý kiến của bà và các hàng thừa kế khác. Cụ thể, nội dung Biên bản họp gia đình ngày 28/08/2015 đã làm giả chữ ký của bà và một số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất để giao lại quyền sử dụng thửa đất số 48, tờ bản đồ số 24 cho ông Đ. Bà cho rằng hành vi của ông Đ đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà cùng các đồng thừa kế khác. Do vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BY 265723, số vào sổ CH 01331, cấp ngày 04/08/2015 mang tên Lê Huỳnh Đ, Lê Thị T1 của thửa đất số 48, tờ bản đồ số 24, diện tích 216,1m² thôn V (thôn E), xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
- Yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế là ba thửa đất số 47, 48, 63 cùng tờ bản đồ 24 tại thôn V, xã C, huyện C của cụ Lê Văn Ư và cụ Trương Thị L theo quy định pháp luật.
Bị đơn Lê Huỳnh Đ, Lê Thị T1 trình bày:
Cha mẹ bị đơn cụ Trương Thị L (mất năm 1992) và cụ Lê Văn Ư (mất năm 2005). Ông bà có 7 người con là Lê Thị C, Lê Xuân P2, Lê Thị P, Lê Thị P1, Lê Quang H, Lê Thị T1, Lê Huỳnh Đ. Thửa đất vợ chồng đang sinh sống cha của ông đã tặng cho vợ chồng ông và có gọi anh P2 là anh cả xuống đóng cọc cho vợ chồng ông xây nhà năm 2003. Vợ chồng ông đã được 6 chị em đồng ý ký biên bản cho đất, trong đó có hai chị ở xa không về được nên đã gọi điện và được hai chị đồng ý. Có thôn trưởng, hội phụ nữ, hội nông dân đã ký cho vợ chồng ông bà làm GCNQSD đất là đúng và hợp pháp. Thửa đất hiện nay bà P đang ở, bà P yêu cầu đứng tên trên GCNQSD đất để chuyển nhượng cho người khác, anh em ông không đồng ý vì đất ông bà để lại cho từng đứa con để hương khói. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án tạo điều kiện để vợ chồng ông được quyền sử dụng đất và giữ nguyên GCNQSD đất đã cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Xuân P2 trình bày:
Bố mẹ ông là ông Lê Văn Ư (mất năm 2005), bà Trương Thị L (mất năm 1992). Gia đình có 7 người con là Lê Thị C, Lê Xuân P2, Lê Thị P, Lê Thị P1, Lê Quang H, Lê Thị S, Lê Huỳnh Đ. Trước khi cha ông mất đã gọi ông đóng cọc cho phần đất hai em là em H và em Đ hai bên, còn thửa đất ở giữa bà P đang ở. Năm 2005 cha ông chết, cha có để lại tờ di chúc nhưng tờ di chúc này không biết đang ở đâu phần đất cha mẹ chưa cho ai hết, ông chỉ dặn anh em đoàn kết. Thời gian gần đây bà P xin làm GCNQSD đất nhưng ông không nhất trí vì cha mới chết mà nhà thì bà P đang ở. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà P.
Bà Lê Thị P1 trình bày:
Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà P, bà từ chối nhận di sản thừa kế và nhường lại cho bà Lê Thị P.
Bà Lê Thị T1, bà Lê Thị C do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P, các bà từ chối nhận di sản thừa kế và nhường lại cho bà Lê Thị P.
Ông Lê Quang H trình bày:
Di sản thừa kế cha mẹ để lại là 03 thửa đất số 47, 48, 63 thuộc tờ bản đồ số 24 ở thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Ngôi nhà ông đang ở thuộc thửa số 63, ông đã xây dựng nhà kiên cố khoảng năm 1993, 1994 và sinh sống ổn định đến nay. Thửa đất này cha mẹ ông cho ông khi cha còn sống và anh em trong gia đình không ai có ý kiến gì về việc này. Về yêu cầu hủy GCNQSD đất, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về yêu cầu chia di sản thừa kế, theo ông di sản thừa kế còn lại là thửa đất bà P đang ở, còn hai thửa đất hai bên cha mẹ đã cho ông và ông Đ. Ông đã được cha mẹ cho thửa đất đang làm nhà nên không yêu cầu chia thừa kế, không nhận thừa kế, để cho bà P phần của ông.
Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:
Về thủ tục cấp GCNQSD đất số BY 263273 do UBND huyện C cấp cho ông Lê Huỳnh Đ và bà Lê Thị T1: Tại hồ sơ cấp GCNQSD đất của ông Lê Huỳnh Đ và bà Lê Thị T1 có kèm theo biên bản họp gia đình, bao gồm có các thành viên thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn Ư và bà Trương Thị L, các thành viên đều thống nhất để lại cho ông Lê Huỳnh Đ và bà Lê Thị T1 thửa đất nêu trên. Tuy nhiên, theo kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H thì chữ ký của bà Lê Thị P trong biên bản họp gia đình là giả mạo vì vậy, UBND huyện C đồng ý hủy GCNQSD đất số BY 263273 do UBND huyện C cấp cho ông Lê Huỳnh Đ và bà Lê Thị T1.
Về yêu cầu phân chia di sản thừa kế là ba thửa đất số 47, 48, 63 cùng tờ bản đồ số 24, thuộc thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh của ông Lê Văn Ư và bà Trương Thị L1 để lại đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để xem xét quyết định.
Quan điểm của UBND xã C, huyện C:
nhất trí như ý kiến trình bày của UBND huyện C.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quyết định:
Áp dụng khoản Điều 26; Điều 34; Điều 37, Điều 147; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649; điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P:
- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BY 265723, số vào sổ CH 01331, cấp ngày 04/08/2015 mang tên Lê Huỳnh Đ, Lê Thị T1 của thửa đất số 48, tờ bản đồ số 24, diện tích 216,1m² tại thôn V (Thôn E), xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Công nhận thửa đất số 63, 47, 48 thuộc tờ bản đồ số 24 có địa chỉ tại thôn V, xã C huyện C, tỉnh Hà Tĩnh là di sản thừa kế của cụ Lê Văn Ư và cụ Trương Thị L để lại.
Chia thừa kế theo kỷ phần hàng thừa kế:
+ Giao cho bà Lê Thị P được quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất số 47, diện tích 328,1m² (Trong đó 100m² đất ở và 228,1m² đất vườn). Ký hiệu S2 có vị trí như sau: Phía Bắc giáp đường giao thông dài 13,06m; phía Đông giáp đất ông Lê Huỳnh Đ dài 35,45m (23,63m + 11,82m); Phía Tây giáp đất ông Lê Quang H dài 44,12m (10,64m + 2,16m + 7,05m +10,26m +14,01m); Phía Nam giáp đường giao thông dài 7,42m.
+ Giao cho ông Lê Huỳnh Đ được quản lý và sử dụng toàn bộ thửa đất số 48, diện tích 232,01m² (Trong đó 100m² đất ở và 132,01m² đất vườn); Ký hiệu S3 có vị trí như sau: Phía Bắc giáp đường giao thông dài 7,56m; phía Đông giáp đất bà Lê Thị Đình d 34,57m (6,54m + 5,65m + 22,47m); Phía Tây giáp đất bà Lê Thị P dài 35,44m (23,62m+ 11,82m); Phía Nam giáp đường giao thông dài 5,42m
Ông Lê Huỳnh Đ được nhận từ ông Lê Quang H 6.950.300 đồng (sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm đồng) tiền chênh lệch của phần đất còn thiếu.
+ Ông Lê Xuân P2 được nhận từ ông Lê Quang H: 21.839.000 đồng (hai mốt triệu tám trăm ba mươi chín nghìn đồng).
+ Giao cho ông Lê Quang H được quản lý và sử dụng thửa số 63 diện tích 517,16m2 (trong đó 100m² đất ở và 416,16m² đất vườn). Ký hiệu S1 có vị trí như sau: Phía Bắc giáp đường giao thông dài 16,21m; phía Đông giáp đất bà Lê Thị P dài 44,12m ( 10,64m + 2,16m + 7,05m + 10,26m + 14,01m); Phía Tây giáp đất dân cư dài 23,29m; Phía Nam giáp đất dân cư và đường giao thông dài 34,06m (13,71m + 0,68m + 5,47m + 2,16m + 5,73m + 3,14m + 3,17m).
Ông Lê Quang H phải đưa lại cho: ông Lê Huỳnh Đ 6.950.300 đồng; ông Lê Xuân P2: 21.839.000 đồng.
Đối với tài sản trên đất hiện nay ông Lê Quang H, Lê Thị P, Lê Huỳnh Đ đang ở giữ nguyên hiện trạng.
(Có sơ đồ thể hiện phần đất cụ thể giao cho các đương sự kèm theo bản án sơ thẩm).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/10/2023, bà Lê Thị T1 (vợ của ông Lê Huỳnh Đ) có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần chia di sản đối với diện tích đất mà vợ chồng bà đang ở là không đúng, phần đất này đã được bố mẹ tặng cho vợ chồng bà.
Ngày 20/10/2023, ông Lê Xuân P2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chia phần thừa kế của ông bằng đất, không nhận phần thừa kế bằng tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo là ông Lê Xuân P2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bà Lê Thị T1 vắng mặt không rõ lý do; các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn có kháng cáo là bà Lê Thị T1 vắng mặt không rõ lý do, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Lê Thị T1. Xét kháng cáo của ông Lê Xuân P2 đề nghị được chia toàn bộ di sản thừa kế bằng hiện vật và chịu trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng di sản thừa kế, diện và hàng thừa kế, cách chia thừa kế là phù hợp quy định pháp luật. Bản án sơ thẩm có sai sót và đã sửa chữa, bổ sung bản án. Kháng cáo của ông Lê Xuân P2 là không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận và trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Lê Thị T1 và ông Lê Xuân P2 trong thời hạn luật định và hợp lệ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp pháp, được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn có kháng cáo là bà Lê Thị T1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đồng thời bà T1 cũng không có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia phiên tòa, được coi như từ bỏ việc kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà T1.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về thời hiệu khởi kiện:
Theo giấy chứng tử và lời khai của các đương sự thì cụ Trương Thị L chết ngày 28/4/1992. Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Ngày 20/01/2023, nguyên đơn khởi kiện vụ án chia thừa kế. Như vậy đến thời điểm khởi kiện thì cụ Trương Thị L đã chết được 31 năm vì vậy thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L để lại đã hết. Tại bản tự khai ngày 24/3/2023, bà Lê Thị P đã yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ L, căn cứ vào khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải áp dụng thời hiệu trong trường hợp này. Như vậy thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ Trương Thị L đã hết, căn cứ tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì phần di sản của cụ Trương Thị L để lại thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu.
Cụ Lê Văn Ư mất năm 2005, ngày 20/01/2023, bà Lê Thị P gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu chia di sản thừa kế đối với là di sản của cụ Ư để lại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, như vậy việc khởi kiện của bà P về việc chia thừa kế đối với di sản của cụ Lê Văn Ư để lại trong thời hiệu được pháp luật quy định.
[2.2] Xác định di sản thừa kế:
Các đương sự đều thống nhất di sản thừa kế của cụ Lê Văn Ư và Trương Thị L để lại là 03 thửa đất số 63, 47, 48 thuộc tờ bản đồ số 24 có địa chỉ tại thôn V, xã C, huyện C. Hai cụ mất đều không để lại di chúc, biên bản họp gia đình ngày 28/8/2015 không có đầy đủ chữ ký của những người ở hàng thừa kế thứ nhất nên không có giá trị pháp lý. Như vậy cả ba thửa đất đều đang là di sản của cụ Lê Văn Ư và cụ Trương Thị L chưa chia thừa kế cho ai. Do thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của cụ Trương Thị L đã hết nên sẽ thuộc về quyền sử dụng của người đang chiếm hữu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế còn lại chưa chia là di sản do ông Lê Văn Ư để lại là ½ diện tích 3 thửa đất số 47, 48, 63 thuộc tờ bản đồ số 24 tại thôn V, xã C, huyện C là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[2.3] Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất cho ông Lê Huỳnh Đ, bà Lê Thị T1:
Theo hồ sơ cấp GCNQSD và ý kiến của UBND xã C, huyện C thì tại hồ sơ cấp GCNQSD đất của ông Lê Huỳnh Đ và bà Lê Thị T1 có kèm theo biên bản họp gia đình ngày 28/8/2015, bao gồm có các thành viên thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Văn Ư và cụ Trương Thị L, các thành viên đều thống nhất để lại cho ông Lê Huỳnh Đ và bà Lê Thị T1 thửa đất nêu trên. Như vậy Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện C đã căn cứ vào Biên bản họp gia đình ngày 28/8/2015 để thực hiện việc cấp GCNQSD đất cho ông Lê Huỳnh Đ và bà Lê Thị T1. Tuy nhiên theo Kết luận giám định số 789/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H, thì chữ ký, chữ viết đề tên Lê Thị P dưới mục “CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA KÝ TÊN” trên mẫu giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đề tên Lê Thị P trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 không phải do cùng một người ký ra. Vì vậy có căn cứ khẳng định chữ ký của bà Lê Thị P tại Biên bản họp gia đình không phải do bà P viết ra. Bà Lê Thị T1 trình bày từ nhỏ đến lớn tên khai sinh của bà là Lê Thị T1 chứ không phải Lê Thị S1 vì vậy chữ ký Lê Thị S1 không phải là của bà. Hơn nữa Biên bản họp gia đình đề ngày 28/8/2023 nhưng GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BY 265723, số vào sổ CH 01331 mang tên Lê Huỳnh Đ, Lê Thị T1 lại cấp ngày 04/08/2015, có nghĩa là Biên bản họp gia đình có sau khi cấp GCNQSD đất, về mặt thời gian là không hợp lý, vì vậy việc cấp GCNQSD đất của UBND huyện C đã thực hiện không đúng quy định của pháp luật, yêu cầu của bà Lê Thị P về việc hủy GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BY 265723, số vào sổ CH 01331, cấp ngày 04/08/2015 mang tên Lê Huỳnh Đ, Lê Thị T1 của thửa đất số 48, tờ bản đồ số 24, diện tích 216,1 m² tại thôn V (Thôn E), xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh là có sơ sở chấp nhận.
[2.4] Về hàng thừa kế:
Ông Lê Văn Ư có vợ là bà Trương Thị L (đã mất), ông bà có 07 người con: ông Lê Xuân P2, ông Lê Quang H, ông Lê Huỳnh Đ; bà Lê Thị C, bà Lê Thị P1, bà Lê Thị P, bà Lê Thị T1. Như vậy hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn Ư bao gồm: ông Lê Xuân P2, ông Lê Quang H, ông Lê Huỳnh Đ; bà Lê Thị C, bà Lê Thị P1, bà Lê Thị P, bà Lê Thị T1.
Bà Lê Thị C, Lê Thị T1, Lê Thị P1 từ chối nhận di sản thừa kế và nhường phần di sản thừa kế của mình cho bà Lê Thị P. Xét thấy nguyện vọng của đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về hiện trạng thửa đất: Theo biên bản thẩm định tại chỗ và kết quả định giá, thửa đất tranh chấp có tổng diện tích là 1.077,25m² gồm: Thửa số 63 diện tích 517,16m² hiện ông Lê Quang H đang quản lý, sử dụng; Thửa 47 diện tích 328,1m² do bà Lê Thị P đang đang quản lý, sử dụng; Thửa 48 diện tích 232,01m² do ông Lê Huỳnh Đ đang quản lý, sử dụng và đã xây dựng nhà cửa kiên cố.
[2.5] Về kháng cáo của ông Lê Xuân P2:
Cụ Lê Văn Ư và cụ Trương Thị L có 07 người con chung, không có con riêng hay con nuôi nào khác. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì những người này thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng các phần bằng nhau là 07 kỷ phần. Tổng diện tích 03 thửa đất là 1.077,25m² trong đó di sản thừa kế do ông Lê Văn Ư để lại là ½ diện tích là 538,63m². Như vậy, mỗi kỷ phần được hưởng 76,95m², trong đó bà Lê Thị P được nhận phần của bà Lê Thị P1, Lê Thị C, bà Lê Thị T1 với tổng diện tích là 76,95 m² x 4 = 307,8 m².
Theo biên bản thẩm định ngày 15/8/2023 thì ông Lê Huỳnh Đ đã xây nhà và công trình kiên cố trên thửa đất số 48, bà Lê Thị P đã xây nhà và công trình kiên cố trên thửa đất số 47, ông Lê Huỳnh Đ đã xây nhà và công trình kiên cố trên thửa đất số 63. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông Lê Huỳnh Đ, bà Lê Thị P, ông Lê Quang H được quyền sử dụng đối với ½ diện tích đất do cụ L để mà đang là người chiếm hữu thực tế. Cụ thể:
- Đối với thửa số 47, diện tích 328,1m²: Bà Phận được quyền sử dụng phần hết thời hiệu của cụ L là: 328,1 : 2 = 164,05m². Phần di sản cụ Lê Văn Ư là 164,05m².
- Đối với thửa số 48, diện tích 232m²: Ông Đ đang trực tiếp quản lý sử dụng nên được quyền sử dụng phần hết thời hiệu chia thừa kế của cụ L là: 232m² : 2 = 116m². Phần di sản của cụ Lê Văn Ư còn lại là: 116m².
- Đối với thửa số 63, diện tích 517,16m²: Ông H đang trực tiếp quản lý sử dụng nên được hưởng phần hết thời hiệu chia thừa kế của cụ L là: 517,16m² : 2 = 258,58m². Phần di sản của cụ Ư còn lại là 258,58m².
Di sản của cụ Ư còn lại tổng cộng là: 164,05 m² + 116m² + 258,58m² = 538,63m². Di sản cụ Ư để lại mỗi kỷ phần là 538,63m² : 7 = 76,95m². Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng phần diện tích di sản thừa kế để chia và mỗi kỷ phần thừa kế là 76,95m².
Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Đ, bà P và ông H sẽ được chia mỗi người 1/3 diện tích là di sản do cụ L để lại là 179,54 m² là không đúng quy định của pháp luật vì phần di sản của cụ L hết thời hiệu ai đang quản lý phần nào thì được quyền sử dụng phần đó, không chia phần di sản hết thời hiệu này. Thực tế, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã giao cho ông Đ, bà P, ông H được quản lý sử dụng nguyên hiện trạng các thửa đất mà ông bà đang quản lý sử dụng, không chia thừa kế hay giao phần này cho thừa kế khác nên không vi phạm quy định về phần hết thời hiệu khởi kiện là Tòa án không được chia.
Tòa án đã giao hiện vật là 03 thửa đất mà 03 thừa kế là ông Đ, bà P, ông H đã ở ổn định, xây dựng nhà, phân chia ranh giới đất là có căn cứ, phù hợp với thực tế. Phần chênh lệch tiền giữa các phần thừa kế được nhận hiện vật là đất với nhau thì tại phiên tòa sơ thẩm bà P không yêu cầu nhận phần giá trị đất còn thiếu, ông H chỉ phải trả cho ông Lê Huỳnh Đ số tiền giá trị đất còn thiếu là 6.950.000 đồng.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ông Đ, bà P, ông H không kháng cáo về phần được nhận di sản bằng hiện vật và phần giá trị đất bù trừ. Ông H không kháng cáo về việc phải trả cho ông P2 giá trị phần kỷ phần di sản là 21.839.000 đồng. Các đồng thừa kế khác là bà P1, bà C, bà T1 cũng không kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.
Ông Lê Xuân P2 kháng cáo yêu cầu được nhận di sản bằng hiện vật là quyền sử dụng đất, quá trình giải quyết vụ án, ông P2 xác định bố của ông cũng yêu cầu ông cắm cọc phân chia đất cho hai em là Đ, H quản lý, làm nhà sử dụng đất; ông cũng trình bày phần đất của bà P thì để bà P ở đến hết đời. Thực tế, ông P2 đã có nhà ở, khuôn viên đất khác gần đất bố mẹ, ở từ trước đến nay. Trong khi đó, diện tích đất thừa kế đã được bà P, ông Đ, ông H xây tường bao, làm nhà, quản lý sử dụng ổn định đất cho đến nay đã hơn 30 năm. Các đồng thừa kế khác là bà P1, bà C, bà T1 cũng đã có chỗ ở ổn định khác và đồng ý nhường kỷ phần thừa kế cho bà P, để các chị em, anh em trong gia đình đều có chỗ ở. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm giao đất cho những người đang trực tiếp quản lý sử dụng đất ổn định hơn 30 năm, đã xây dựng khuôn viên, công trình kiên cố và có nhu cầu sử dụng đất và thanh toán giá trị di sản thừa kế cho ông P2 là có căn cứ, hợp tình, hợp lý, phù hợp với thực tế.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà Lê Thị T1 đã nộp. Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Xuân P2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 308; khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn là bà Lê Thị T1; Không chấp nhận kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân P2; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DSST ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà Lê Thị T1 đã nộp tại Biên lai số 0000705 ngày 06/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Ông Lê Xuân P2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại biên lai số 0000682 ngày 27/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Xác nhận ông Lê Xuân P2 đã thi hành xong an phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Anh Thắng |
Bản án số 358/2024/DS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phân chia di sản thừa kế
- Số bản án: 358/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phân chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn là bà Lê Thị T1; Không chấp nhận kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân P2
