Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 358/2025/DS-ST

Ngày 26 – 11 – 2025

V/v tranh chấp HĐ dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hoàng Giang
  2. Bà Đoàn Thị Sim

Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 263/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 435/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Văn phòng Luật sư Mai Thiên T; Địa chỉ: khóm 1, xã Thới B, tỉnh Cà Mau.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1994; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 25/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: ấp 4, xã Thới B, tỉnh Cà Mau; Là người đại diện theo ủy quyền của Văn phòng Luật sư Mai Thiên T theo văn bản ủy quyền ngày 21/10/2025 (xin vắng mặt).

  2. Bị đơn:

    Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; Căn cước công dân số: 09607002301, cấp ngày 16/10/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: ấp Cái Đôi N, xã Cái Đôi V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 17/02/2025, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: ấp Cái Đôi N, xã Cái Đôi V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 22/7/2025, ông Nguyễn Văn T ký hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 39/2025/HĐDVPL-LS với Văn phòng Luật Sư Mai Thiên T (gọi tắt là Văn phòng) để cử chuyên viên pháp lý của Văn phòng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trong giai đoạn phúc thẩm tại vụ án dân sự phúc thẩm số: 163/2025/TLPT-DS ngày 29/5/2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Kim Như. Theo nội dung thỏa thuận tại hợp đồng, công việc của Văn phòng hoàn thành khi Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau chấp nhận một phần hoặc toàn bộ kháng cáo của ông T hoặc hủy bản án sơ thẩm (nếu có) với mức thù lao là 360.000.000 đồng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số: 323/2025/DS-PT, ngày 18/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã sửa bản án sơ thẩm, tuyên chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, bà T1. Tuy nhiên, từ sau khi có bản án phúc thẩm ông T, bà T1 không thực hiện việc trả thù lao theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký nên Văn phòng khởi kiện yêu cầu ông T và bà T1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 360.000.000 đồng (ba trăm sáu mươi triệu đồng) cho Văn phòng. Đồng thời, người đại diện hợp pháp của Văn phòng do bận công việc nên xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

Đối với ông Nguyễn Văn T (bị đơn) và bà Nguyễn Thị T1 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan), Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần nhưng ông T, bà T1 không đến Toà, không gửi văn bản để nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Văn phòng Luật Sư Mai Thiên T (nguyên đơn).

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng, ông Nguyễn Văn T (bị đơn) và bà Nguyễn Thị T1 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Riêng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã có lời khai và có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn cùng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[2] Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về hợp đồng dịch vụ, cụ thể là tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 39/2025/HĐ DVPL-LS ngày 22/7/2025. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả thù lao theo thoả thuận là đã vi phạm điều khoản cam kết nên được xem xét làm cơ sở để thanh lý hợp đồng.

[3] Tuy bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không có lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng căn cứ vào hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết cùng bản án dân sự phúc thẩm số: 323/2025/DS-PT, ngày 18/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã chứng minh việc nguyên đơn đã thực hiện hoàn thành công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả thù lao với số tiền 360.000.000 đồng (ba trăm sáu mươi triệu đồng) là có cơ sở, được chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm thanh toán nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ song vẫn vắng mặt không rõ lý do, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như lời trình bày của nguyên đơn. Dù rằng, tại thời điểm ký kết hợp đồng chỉ có bị đơn trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng với nguyên đơn nhưng việc giao kết hợp đồng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn cùng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Hơn nữa, từ khi ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý cho đến nay giữa bị đơn cùng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn còn tồn tại mối quan hệ vợ chồng mà chưa có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật giải quyết cho ly hôn và không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ có giá trị pháp lý chứng minh trong thời kỳ hôn nhân giữa vợ chồng có thỏa thuận bằng văn bản về việc làm ăn, kinh doanh riêng và chịu trách nhiệm riêng đối với tài sản được tạo lập do làm ăn riêng, kinh doanh riêng mà có được. Do đó, bị đơn cùng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền thù lao nguyên đơn là phù hợp.

[5] Về thời gian và phương thức thanh toán nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải chịu. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp được trả lại toàn bộ cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 513, 518 và Điều 519 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của Văn phòng Luật sư Mai Thiên T.

Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 cùng có nghĩa vụ trả cho Văn phòng Luật sư Mai Thiên T số tiền là 360.000.000 đồng (ba trăm sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Văn phòng Luật sư Mai Thiên T có đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 không tự nguyện thi hành xong thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải nộp số tiền là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng – chưa nộp).

Văn phòng Luật sư Mai Thiên T không phải nộp. Ngày 09/10/2025, Văn phòng Luật sư Mai Thiên T đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) theo biên lai thu số 0001382 được trả lại toàn bộ cho Văn phòng Luật sư Mai Thiên T.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lâm Hoài Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 358/2025/DS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 358/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 22/7/2025, ông Nguyễn Văn T ký hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 39/2025/HĐDVPL-LS với Văn phòng Luật Sư Mai Thiên T (gọi tắt là Văn phòng) để cử chuyên viên pháp lý của Văn phòng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trong giai đoạn phúc thẩm tại vụ án dân sự phúc thẩm số: 163/2025/TLPTDS ngày 29/5/2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Kim Như. Theo nội dung thỏa thuận tại hợp đồng, công việc của Văn phòng hoàn thành khi Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau chấp nhận một phần hoặc toàn bộ kháng cáo của ông T hoặc hủy bản án sơ thẩm (nếu có) với mức thù lao là 360.000.000 đồng. Tại bản án dân sự phúc thẩm số: 323/2025/DS-PT, ngày 18/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã sửa bản án sơ thẩm, tuyên chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, bà T1. Tuy nhiên, từ sau khi có bản án phúc thẩm ông T, bà T1 không thực hiện việc trả thù lao theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký nên Văn phòng khởi kiện yêu cầu ông T và bà T1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 360.000.000 đồng (ba trăm sáu mươi triệu đồng) cho Văn phòng. Đồng thời, người đại diện hợp pháp của Văn phòng do bận công việc nên xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger