trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 358/2025/DS-PT

Ngày 26-6-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng dân

sự về vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi;

Bà Phạm Thị Liên Hiệp;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2025/TLPT-DS ngày 05/5/2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 219/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 301/2025/QĐ-PT ngày 19/5/2025, giữa:

Nguyên đơn: Cao Thị H, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Số A, Khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Số A, Ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Chị Phan Thị Mỹ N, sinh năm 2003;

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Nguyễn Minh P, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965;

Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Xuân L, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Đường L, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người kháng cáo: Anh Nguyễn Minh P là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Cao Thị H trình bày:

Giữa chị H và anh Nguyễn Minh P trước đây là chỗ quen biết, anh P thường xuyên qua nhà chị H chơi với chồng của chị H. Khoảng cuối năm 2023, anh P có mượn cá nhân chị H tổng số tiền 355.000.000 đồng để mua ô tô, làm phương tiện cho anh P chạy xe dịch vụ (số tiền 355.000.000 đồng bao gồm tiền mua xe và tiền làm giấy tờ).

Do là chỗ quen biết nên giữa chị H và anh P không làm hợp đồng vay tiền mà chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Hai bên thỏa thuận khi nào mua xe xong anh P sẽ trả tiền cho chị H. Theo đó, chị H đã chuyển khoản cho anh Nguyễn Minh P và anh Phạm Xuân L - người của Công ty TNHH Ô (công ty bán xe) tổng số tiền là 355.000.000 đồng. Cụ thể như sau:

  • Ngày 24/11/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 13310000072733, Ngân hàng TMCP Đ - B số tiền 190.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Phạm Xuân L);
  • Ngày 24/11/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 13310000072733, Ngân hàng TMCP Đ - B số tiền 110.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Phạm Xuân L);
  • Ngày 28/11/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 10919111444, Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - V số tiền 15.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Nguyễn Minh P);
  • Ngày 09/12/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 10919111444, Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - V số tiền 25.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Nguyễn Minh P);
  • Ngày 22/12/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 10919111444, Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - V số tiền 15.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Nguyễn Minh P);

Trong tổng số tiền 355.000.000 đồng trên thì số tiền mua xe là 340.000.000 đồng, còn số tiền 15.000.000 đồng còn lại thì anh P dùng để làm giấy tờ sang tên xe. Sau đó, anh P được cấp đổi đăng ký xe, nhãn hiệu MISSUBISHI, mang biển kiểm soát số 66G-005.89, số máy 3A92UJD0139, mang tên chủ sở hữu anh Nguyễn Minh P.

Sau khi anh P mua xe xong, chị H đã nhiều lần liên hệ anh P, yêu cầu anh P trả lại cho chị H tổng số tiền 355.000.000 đồng nhưng anh P không chịu trả.

Nay chị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh P trả lại cho chị H số tiền vay 355.000.000 đồng.

- Bị đơn anh Nguyễn Minh P và người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Văn C trình bày:

Chị Cao Thị H khởi kiện anh P trả lại cho chị H số tiền 355.000.000 đồng mà anh P đã vay của chị H, việc chị H trình bày là không đúng. Anh P thừa nhận có nhận của chị H số tiền 355.000.000 đồng, nhưng số tiền này chị H tặng cho anh P, vì chị H có quan hệ tình cảm với anh P. Nay chị H khởi kiện anh P trả lại số tiền 355.000.000 đồng, thì anh P không đồng ý.

- Người có quyền lợi nghĩa liên quan anh Phạm Xuân L: Vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ý kiến đến Tòa án.

Bản án dân sự sơ thẩm số 219/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91, Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 463, 466, 469 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị H.
  2. Buộc anh Nguyễn Minh P có trách nhiệm trả cho chị Cao Thị H số tiền 355.000.000 đồng.
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Về án phí dân sự:
    • - Chị Cao Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.875.000 đồng, theo biên lai thu số 0005568, ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
    • - Anh Nguyễn Minh P phải chịu 17.750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, đại diện cho anh P là ông Nguyễn Văn C (cha anh P) kháng cáo yêu cầu giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt ông C, chị N. Các đương sự khẳng định đã cung cấp thêm đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án.

Ông C trình bày: Anh P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Số tiền chuyển cho anh P để mua xe là do anh L và anh P nhận, thống nhất theo chuyển khoản số tiền 355.000.000 đồng nhưng anh P không đồng ý trả vì do tình cảm hai bên nên chị H có hứa tặng cho anh P. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của chị H. Số tiền thống nhất chuyển khoản qua anh L1 là để anh P mua xe nên không có liên quan gì đến anh L, không có yêu cầu tranh chấp gì với anh L.

Chị N là đại diện hợp pháp của chị H trình bày: Số tiền 355.000.000 đồng thì đến nay anh P chưa có trả cho chị H. Chị H không có tặng cho anh P mà là chuyển cho mượn tiền để mua xe và làm giấy tờ xe. Thống nhất số tiền thống nhất chuyển khoản qua anh L là để anh P mua xe nên không có liên quan gì đến anh L, không có yêu cầu tranh chấp gì với anh L. Căn cứ vào chứng cứ ở cấp sơ thẩm đã được đánh giá đầy đủ nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh P; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Không có yêu cầu khiếu nại gì khác.

[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự chị Cao Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Minh P trả lại cho chị H số tiền 355.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm thu thập, đánh giá chứng cứ xét:

Chị H có cho anh P vay số tiền 355.000.000 đồng (không có làm biên nhận). Hai bên thỏa thuận khi nào mua xe xong anh P sẽ trả tiền cho chị H. Theo đó, chị H đã chuyển khoản cho anh Nguyễn Minh P và anh Phạm Xuân L - người của của Công ty TNHH Ô (công ty bán xe) tổng số tiền là 355.000.000 đồng. Cụ thể như sau:

  • Ngày 24/11/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 13310000072733, Ngân hàng TMCP Đ - B số tiền 190.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Phạm Xuân L). Ngày 24/11/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 13310000072733, Ngân hàng TMCP Đ - B số tiền 110.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Phạm Xuân L). Ngày 28/11/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 10919111444, Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - V số tiền 15.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Nguyễn Minh P). Ngày 09/12/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 10919111444, Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - V số tiền 25.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Nguyễn Minh P). Ngày 22/12/2023, chị H chuyển khoản vào số tài khoản 10919111444, Ngân hàng thương mại cổ phần C1 - V số tiền 15.000.000 đồng (Số tài khoản của anh Nguyễn Minh P).

Trong tổng số tiền 355.000.000 đồng trên thì số tiền mua xe là 340.000.000 đồng, còn số tiền 15.000.000 đồng còn lại thì anh Nguyễn Minh P dùng để làm giấy tờ sang tên xe. Sau đó, anh Nguyễn Minh P được cấp đổi đăng ký xe, nhãn hiệu MISSUBISHI, mang biển kiểm soát số 66G-005.89, số máy 3A92UJD0139, mang tên chủ sở hữu anh Nguyễn Minh P

Theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn C (cha anh P là người được anh P ủy quyền), anh P thừa nhận có nhận của chị H số tiền 355.000.000 đồng; đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì các đương sự trình bày thống nhất với nhau. Nhưng ông C cho rằng số tiền 355.000.000 đồng là chị H tặng cho anh P, vì chị H có quan hệ tình cảm với anh P nên không đồng ý trả nhưng anh P không có chứng cứ để chứng minh việc chị H tặng số tiền trên cho anh P. Do đó việc ông C (là người được anh P ủy quyền) trình bày là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Từ những phân tích nêu trên, buộc anh P trả lại cho chị H số tiền 355.000.000 đồng; đồng thời căn cứ vào đây để tính án phí theo quy định pháp luật.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm thì anh P do ông C đại diện kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H và không có cung cấp bổ sung thêm chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét số tiền tranh chấp 355.000.000 đồng anh P đến nay chưa có trả cho chị H, các đương sự thống nhất không có liên quan gì đến anh L vì đây là tiền anh P dùng mua xe và làm giấy tờ xe. Căn cứ vào việc ghi lý do, các số tài khoản được chuyển tiền vào của chị H là cho mượn tiền mục đích là để anh P mua xe; không có chứng cứ thể hiện việc tặng cho như ông C (đại diện của anh P) trình bày, nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh P. Đối với việc anh L vắng mặt trong việc giải quyết, xét xử vụ án; các đương sự thống nhất là tiền chuyển vào tài khoản anh L là tiền anh P vay trả tiền mua xe, không có tranh chấp gì với anh L nên việc giải quyết vắng mặt của anh L không ảnh hưởng quyền lợi, vẫn đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp pháp luật nên chấp nhận. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên anh P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo anh Nguyễn Minh P.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị H.
  2. Buộc anh Nguyễn Minh P có trách nhiệm trả cho chị Cao Thị H số tiền 355.000.000 đồng.
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Chị Cao Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.875.000 đồng, theo biên lai thu số 0005568 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
    • - Anh Nguyễn Minh P phải chịu 17.750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Anh Nguyễn Minh P chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp (do ông C nộp thay) là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011189 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Anh P không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV và THA TAT;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND huyện Tháp Mười;
  • - CCTHADS huyện Tháp Mười;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 358/2025/DS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản

  • Số bản án: 358/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Cao Thị H BĐ: Nguyễn Minh P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger