|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 358/2024/HS - ST Ngày: 18/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Ông Vũ Thanh Tùng |
| Các Hội thẩm nhân dân | Ông Nguyễn Hải Phùng |
| Bà Lê Thanh Ngọc | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa | Bà Trần Phương Ly |
Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 18/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 349/2024/HSST ngày 29/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2024/QĐXXST-HS ngày 31/10/2024 đối với bị cáo có lý lịch như sau:
Họ và tên: Đoàn Tuấn A – Sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố F, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đoàn Văn T – Đã mất; Con bà: Phạm Thị T1 Sinh năm: 1958; Vợ: Không xác định; Con: có 02 con; Tiền án, tiền sự: 03 tiền án, 02 tiền sự. Năm 2007: đi cai nghiện bắt buộc, về 1/2009; Tháng 6/2009: đi cai nghiện bắt buộc, về 6/2013. Ngày 26/9/2016, bị Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã nộp án phí; chưa thi hành khoản tiền truy thu; chưa xoá án tích); Ngày 09/7/2019, bị Toà án nhân dân quận Long Biên xử 26 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. (tái phạm; đã nộp án phí; chưa nộp tiền bôi thường dân sự; chưa xoá án tích); Ngày 13/11/2019, bị Toà án nhân dân quận huyện Gia Lâm xử 40 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (tái phạm; chưa nộp án phí; chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm; chưa nộp tiền liên đới bồi thường; chưa xoá án tích); D chỉ bản số 653 lập ngày 25/8/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (có mặt tại phiên toà)
Bị hại: Công ty TNHH T3.
Địa chỉ: B K, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Tuấn L – Giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc T2; (có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1958. Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố số F, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt).
- - Bà Đàm Thị Thúy H, sinh năm 1966. Nơi ĐKHKTT: Số A Phố T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h30 phút ngày 15/8/2024, Đỗ Hữu Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29Y5-92187 chở Đoàn Tuấn A đến trước cửa hàng T4 số C phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội (thuộc công ty TNHH T3) để trộm cắp tài sản. Lúc này, Đ ngồi trên xe máy gần cửa hàng để cảnh giới; còn Tuấn A xuống xe và tiến lại gần vị trí để đồ trước cửa hàng, quan sát thấy không có người trông giữ, Tuấn A lén lút dùng hai tay cầm 01 túi nước giặt nhãn hiệu Omo Comfort trọng lượng 3,6 kg/túi; 01 túi nước giặt nhãn hiệu Omo Matic trọng lượng 412 gam/túi là hàng tặng kèm và 01 túi nước xả đậm đặc có nhãn hiệu Hygiene có thể tích 1150 mg/túi rồi định chạy ra xe Đ chờ sẵn để tẩu thoát thì bị chị Nguyễn Thị Ngọc T2 (sinh năm: 1998; HKTT: xã M, huyện D, tỉnh Hà Nam) là nhân viên bán hàng của cửa hàng phát hiện và hô hoán. Thấy vậy, Tuấn A vứt lại 03 túi nước giặt, nước xả vừa trộm cắp được rồi bỏ chạy theo hướng Phương M- Lương Đình C, khi đến ngã tư thì bị bắt giữ. Còn Đ nổ máy, phóng xe máy bỏ chạy, liền bị chị T2 bám tay vào đuôi xe máy, chạy theo kéo giữ, khi đến đầu ngõ C P thì Đ bị bắt giữ. Tại cơ quan điều tra, Đoàn Tuấn A và Đỗ Hữu Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên và khai: Tuấn A và Đ là bạn xã hội chơi với nhau, do cần tiền tiêu xài cá nhân, cả hai rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Tuấn A là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; còn Đ là người điều khiển xe máy chở Tuấn A đi trộm cắp tài sản và đứng ngoài cảnh giới.
Ngoài ra, Tuấn A và Đ còn cùng nhau 02 lần thực hiện trộm cắp tài sản tại cửa hàng T4 ở số C phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội, cụ thể: (Vụ thứ 2): Ngày 13/8/2024, Đ điều khiển xe máy Honda Wave, BKS: 29Y5-92187 chở Tuấn A đến cửa hàng T4, Đ đứng ngoài cảnh giới, còn Tuấn A tiến đến cửa hàng, quan sát thấy không có người trông giữ, liền lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 03 túi nước giặt nhãn hiệu Omo comfort, trọng lượng 3,6 kg/túi; 03 túi nước giặt Omo matic trọng lượng 412 gam/túi là hàng tặng kèm; 03 túi nước xả đậm đặc nhãn hiệu Hygine, thể tích 1150ml/túi rồi Tuấn A lên xe máy Đ điều khiển tẩu thoát. Sau đó, cả hai cùng đem bán cho bà Đàm Thị Thúy H ở cửa hàng T5 tại A T, bãi P, quận B, TP Hà Nội với giá 300.000đ. (Vụ thứ 3): Ngày 14/8/2024, với hành vi như trên Tuấn A và Đ đến trộm cắp tại cửa hàng T4, gồm: 03 túi nước giặt nhãn hiệu Omo comfort, trọng lượng 3,6 kg/túi; 03 túi nước giặt Omo matic trọng lượng 412 gam/túi là hàng tặng kèm; 03 túi nước xả đậm đặc nhãn hiệu Hygine, thể tích 1150ml/túi. Sau đó, cùng đem bán cho bà Đàm Thị Thúy H với giá 300.000đ. Tổng số tiền Tuấn A và Đ bán cho bà H là 600.000đ. Số tiền trên, Tuấn A và Đ đã tiêu xài vào mục đích cá nhân.
- Tang vật thu giữ: 07 túi nước giặt nhãn hiệu Omo Comfort trọng lượng 3,6 kg/túi; 07 túi nước giặt nhãn hiệu Omo Mactic trọng lượng 412 gam/túi, 07 túi nước xả đậm đặc có nhãn hiệu Hygiene có thể tích 1150 ml/túi.
- + 01 đĩa VDV ghi nhận nội dung sự việc trộm cắp trong các ngày 13,14 và 15/8/2024 của Đoàn Tuấn A và Đ.
- + 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29Y5-921.87 mang tên Nguyễn Tuấn H1, số khung RLHJA 3902 HY443849, số máy JA 39E 0418976. Bản kết luận giám định số 6989/KL-KTHS ngày 03/10/2024, kết luận: là số khung, số máy nguyên thủy.
- Bản kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND quận Đ kết luận: 07 túi nước giặt nhãn hiệu Omo comfort, trọng lượng 3,6 kg/túi chưa qua sử dụng, trị giá 1.266.363 đồng; 07 túi nước xả đậm đặc nhãn hiệu Hygine, thể tích 1150ml/túi chưa qua sử dụng, trị giá 630.000 đồng; 07 túi nước giặt Omo Matic trọng lượng 412 gam/túi là tặng kèm không xác định giá trị. Tổng trị giá tài sản là 1.896.363 đồng.
- Ngày 09/10/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 8701: trao trả 07 túi nước giặt nhãn hiệu Omo Comfort, trọng lượng 3,6 kg/túi; 07 túi nước giặt Omo Matic trọng lượng 412 gam/túi; 07 túi nước xả đậm đặc nhãn hiệu Hygiene, thể tích 1150ml/túi cho chị Nguyễn Thị Ngọc T2 (là người ủy quyền của công ty TNHH T3). Chị T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
- Tại cơ quan điều tra, bà Đàm Thị Thúy H, sinh năm 1966 (HKTT: 115 phố T, phường P, quận B, Hà Nội) khai: ngày 13 và 14/8/2024, bà H mua 06 túi nước giặt nhãn hiệu Omo comfort, trọng lượng 3,6 kg/túi; 06 túi nước giặt Omo Matic trọng lượng 412 gam/túi; 06 túi nước xả đậm đặc nhãn hiệu Hygine, thể tích 1150ml/túi của Tuấn A và Đ với giá 600.000 đồng. Bà H không biết số nước giặt trên là tài sản do trộm cắp mà có. Ngày 15/8/2024, bà H tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số nước giặt, nước xả trên cho Cơ quan điều tra. Gia đình Đoàn Tuấn A và Đỗ Hữu Đ đã hoàn trả bà Hằng số tiền 600.000đ, bà H không có yêu cầu gì về dân sự.
- Đối với xe máy Honda Wave, BKS: 29Y5-92187, đăng ký mang tên Nguyễn Tuấn H1 là của bà Phạm Thị T1, sinh năm 1955 (HKTT: tổ dân phố F, phường Đ, quận B, Hà Nội) mua tháng 02/2024 nhưng chưa sang tên. Bà T1 (mẹ của Đoàn Tuấn A) không biết việc Tuấn A sử dụng xe máy để đi trộm cắp tài sản.
- Đối với Đỗ Hữu Đ tham gia trộm cắp tài sản cùng với với Đoàn Tuấn A, tổng trị giá tài sản là 1.896.363đ. Do đó, hành vi của Đ chưa cấu thành tội phạm, ngày 16/8/2024, Cơ quan CQĐT- Công an quận Đ đã ra quyết định trả tự do số 5959 đối với Đỗ Hữu Đ, áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.
Cáo trạng số 341/CT-VKSĐĐ ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Đoàn Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo Tuấn A thừa nhận việc bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T1 có ý kiến xin được nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wawe màu trắng, BKS: 29Y-921.87, đây là chiếc xe mà Tuấn A mượn bà T1 để đi lại, bà T1 không biết Tuấn A mượn xe đi trộm cắp. Bà T1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn A từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2024. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 BLHS.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho bà Phạm Thị T1 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wawe màu trắng, BKS: 29Y-921.87; số khung RLH JA 3902 HY 443849; số máy JA 39E0418976 do không liên quan đến tội phạm.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm khuyết điểm trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về việc vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an quận Đ đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tình tiết trong vụ án, người bị hại không có yêu cầu về bồi thường dân sự nên căn cứ Điều 292 BLTTHS năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Trong các ngày 13, 14, 15 tháng 8 năm 2024, Đoàn Tuấn A đã có hành vi trộm cắp 07 túi nước giặt nhãn hiệu Omo Comfort, trọng lượng 3,6 kg/túi; 07 túi nước giặt Omo Matic trọng lượng 412 gam/túi; 07 túi nước xả đậm đặc nhãn hiệu Hygiene, thể tích 1150ml/túi tại cửa hàng T4 số C phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội thuộc tài sản của Công ty TNHH T3. Trị giá tài sản Đoàn Tuấn A chiếm đoạt là 1.896.363 đồng chưa đủ 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã có 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội nói chung và gây hoang mang lo sợ trong quá trình gìn giữ tài sản ở địa phương nói riêng. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức pháp luật đầy đủ, song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, vì động cơ tham lam, tư lợi muốn có tiền tiêu sài, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, bị cáo có 03 tiền án và 02 tiền sự, trong đó có nhiều lần bị đưa ra xét xử về tội “trộm cắp tài sản” và “cướp giật tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng phòng, chống tội phạm chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe máy nhã hiệu Honda Wawe màu trắng, BKS: 29Y-921.87 bị cáo dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, xét đây là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị T1, bà T1 không biết việc bị cáo Tuấn A mượn xe đi trộm cắp nên cần trả lại cho bà Phạm Thị T1.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Gia đình Đoàn Tuấn A và Đỗ Hữu Đ đã hoàn trả bà Hằng số tiền 600.000đ từ việc bán tài sản trộm cắp, bà H không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với Đỗ Hữu Đ tham gia trộm cắp tài sản cùng với với Đoàn Tuấn A, tổng trị giá tài sản là 1.896.363đ. Do đó, hành vi của Đ chưa cấu thành tội phạm, ngày 16/8/2024, Cơ quan CQĐT- Công an quận Đ đã ra quyết định trả tự do số 5959 đối với Đỗ Hữu Đ, áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Bà Đàm Thúy H không biết số nước giặt trên là tài sản do trộm cắp mà có. Ngày 15/8/2024, bà H tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số nước giặt, nước xả trên cho Cơ quan điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo: Đoàn Tuấn A 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2024. - Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Trả lại cho bà Phạm Thị T1: Thu 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wawe màu trắng, BKS: 29Y-921.87; số khung RLH JA 3902 HY 443849; số máy JA 39E0418976, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 40 ngày 05/11/2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội. - Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Bị cáo Đoàn Tuấn A phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bà Phạm Thị T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, bà Đàm Thúy H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Tùng |
Bản án số 358/2024/HS - ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 358/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; Xử phạt bị cáo: Đoàn Tuấn A 12 (mười hai) tháng tù.
