TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 357/2024/DS-PT
Ngày: 25-4-2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Châu Thị Điệp. |
| Các Thẩm phán: | Ông Uông Văn Tuấn |
| Bà Lê Thị Ngọc Hương. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thuỳ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 25/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLPT-DS ngày 16/01/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 639/2023/DS-ST ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 993/2024/QĐ-PT ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 4178/2024/QĐ-PT ngày 29/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số D đường A, tổ G, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Thanh B, sinh năm: 1997; Địa chỉ: số C đường N, tổ G, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo ủy quyền (văn bản uỷ quyền ngày 22/9/2022) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số D đường A, tổ G, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đàm Trung T, sinh năm 1990 và ông Trần Bình A, sinh năm 2000; Cùng địa chỉ liên hệ: 252/10 đường P, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 14/6/2023) (ông T có mặt, ông A vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị Tuyết M, sinh năm 1973; Địa chỉ: 2 đường P, tổ B, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đàm Trung T và ông Trần Bình A - đại diện theo uỷ quyền. Có nơi cư trú trên (văn bản uỷ quyền ngày 14/6/2023) (ông T có mặt, ông A vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Văn Phòng C; Địa chỉ: số A Tỉnh Lộ 8, khu phố B, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Đại diện Nguyên đơn trình bày:
Phần đất thuộc thửa số 613, tờ bản đồ số 67, Bộ địa chính xã A, huyên C, diện tích 1773,5m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 794630, số vào sổ cấp GCN: CH00615 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/9/2010 cho ông Nguyễn Văn P là do ông được thừa hưởng nhà, đất của cha mẹ chết để lại cho ông sử dụng ở và thờ cúng cha, mẹ, ông bà nội ngoại. Căn nhà này chỉ có ông và con ông tên Nguyễn Minh N, sinh năm 1993 sống cùng.
Năm 2018, ông N có nói với ông hiện ông chỉ có một mình N là con, trước sau gì nhà cửa cũng để lại cho N thừa hưởng, nên yêu cầu ông tặng cho lại nhà đất cho N đứng tên, hàng tháng N sẽ gửi tiền về cho ông trang trải cuộc sống và khi ông già thì N chăm sóc nuôi dưỡng ông đồng thời thay ông cúng giỗ ông, bà, cha mẹ. Nhận thấy N nói như thế cũng phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống người Việt. Vào ngày 22 tháng 02 năm 2018, ông ra Văn phòng C1 lập hợp đồng tặng cho con ông là Nguyễn Minh N. Ngày 04/6/2018, N được cập nhật đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi tặng cho và cập nhật tên trên trang tư, ông vẫn là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý và sử dụng nhà đất cho đến nay, chưa hề có việc bàn giao nhà cho N. Ông N sau khi đi Hàn Quốc về có hỏi giấy chứng nhận, ông đưa xem, nhưng sau đó N đem đi không trả lại ông. Ông nghĩ N giữ giấy cũng không ảnh hưởng gì.
Ngày 29/8/2022, ông Nguyễn Minh N đến Văn Phòng C2 làm hợp đồng tặng cho nhà, đất nêu trên cho bà Trịnh Thị Tuyết M mà không hỏi ý kiến của ông. Biết được sự việc, ông đến Văn phòng C3 không cho ký kết hợp đồng tặng cho vì ông tặng cho ông N là với mục đích nuôi dưỡng ông và thờ tự, cúng giỗ ông bà, cha, mẹ, nhưng hiện nay N chưa thực hiện được yêu cầu này, ông còn sống mà lại đi tặng cho người khác đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của ông và nghĩa vụ của N sau này. Ông hiện chỉ có căn nhà này để ở và là nơi thờ tự ông, bà, cha, mẹ của ông, việc tặng cho người khác căn nhà này đã đẩy ông ra khỏi nhà không có nơi ở, bàn thờ ông, bà, cha, mẹ của ông không có nơi để thờ. Tại Văn phòng công chứng Trần Trung D, N và bà M còn đe dọa sẽ cho ông ra gầm cầu, vĩa hè ở.
Sau đó, ông phát hiện ông Nguyễn Minh N đã tiếp tục cố tình tẩu tán tài sản đang tranh chấp bằng cách tặng cho bà Trịnh Thị Tuyết M bằng hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) có công chứng số 027793, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C lập 29/8/2022.
Ngày 09/11/2022 bà Trịnh Thị Tuyết M được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 720201, số vào sổ số: CS09251.
Ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có công chứng số 7475 ngày 22/02/2018 Tại Văn phòng C.
- Hủy phần cập nhật trang tư ngày 04/06/2018 cho ông Nguyễn Minh N do vi phạm lời hứa điều kiện tặng cho.
- Khôi phục lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho ông theo quy định của pháp luật.
- Hủy bỏ Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) có công chứng số 027793 do Văn phòng C lập 29/8/2022.
- Hủy GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 720201, số vào sổ cấp GCN: CS09251 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 09/11/2022.
- Đại diện bị đơn trình bày:
Ông N là con trai duy nhất của ông Nguyễn Văn P và bà Trịnh Thị Tuyết M. Sau khi cha mẹ ly hôn, ông N sống chung với ông P và ông nội tại địa chỉ số D đường A, tổ G, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng năm 2013 thì ông N đi học tập và sau đó tiếp tục làm việc, sinh sống tại Hàn Quốc. Từ thời điểm đó cho đến nay, ông N vẫn sắp xếp thời gian đi qua đi lại giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
Đến năm 2018, ông P thấy cuộc sống, công việc của ông N đã ổn định. Bản thân ông N cũng đang trong độ tuổi lập gia đình. Nên ông P có ý muốn tặng cho ông N nhà đất mà ông P đang đứng tên để ông N làm tài sản riêng. Do đó vào ngày 22/02/2018 tại Văn phòng C1, ông P đã ký hợp đồng tặng cho ông N toàn bộ quyền sử dụng đất thửa 613, tờ bản đồ số 67, diện tích 1.773,5 m² tại xã A, huyên C, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00615 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/9/2010. Sau đó, ông N đã làm thủ tục đăng ký biến động, cập nhật sang tên chủ sở hữu ngày 04/6/2018. Việc giao kết hợp đồng tặng cho nêu trên giữa ông P và ông N là hoàn toàn tự nguyện, không có bất kỳ điều kiện nào (Điều 2 Hợp đồng tặng cho ngày 22/02/2018). Mục đích của giao dịch tặng cho không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Đến năm 2022, ông N cần một số vốn để kinh doanh, mở phòng tập thể hình tại Hàn Quốc. Ông N định bán nhà, đất nêu trên để lấy tiền. Tuy nhiên, nhà đất nêu trên là kỷ niệm của ông bà để lại và ông P (cha), ông I (ông nội) của ông N còn sinh sống trong nhà đất này. Nếu bán cho người ngoài thì không còn giữ được kỷ niệm, cha và ông nội sẽ không còn nơi sinh sống. So sánh giữa ông P và bà M thì ông N nhận thấy tin tưởng bà M hơn. Vì trước đó ông P từng có tiền án. Ông P cũng đã bán hai phần đất khác do ông bà để lại để lấy tiền bồi thường cho bên thứ ba, nếu để lại cho ông P thì có khả năng ông P sẽ bán luôn để lấy tiền. Do đó, ông N có trao đổi với bà M (mẹ ông N) về việc ông N tặng cho lại bà M nhà đất này để gìn giữ tài sản của ông bà, dù sao bà M cũng là mẹ và từng là dâu trong gia đình. Về mặt tình cảm mẹ con, bà M sẽ hỗ trợ tiền cho ông N để ông N có vốn kinh doanh. Vì vậy, vào ngày 29/8/2022, tại Văn phòng C, ông N đã lập hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng thửa đất 613 nêu trên cho bà Trịnh Thị Tuyết M. Sau đó, bà M đã làm thủ tục đăng ký biến động và được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nhận số CS09251 vào ngày 09/11/2022. Toàn bộ việc tặng cho giữa ông N và bà M là hoàn toàn tự nguyện, mục đích của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Ông P cho rằng hợp đồng tặng cho ông N là loại hợp đồng tặng cho có điều kiện. Lúc ông P còn sống mà ông N đã tặng cho lại cho bà M mà không hỏi ý kiến ông P là làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P. Đây là lời nói, lập luận không có chứng cứ để chứng minh. Bản thân ông N đã đủ tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tài sản do ông N đứng tên riêng nên ông N có thể tự xác lập mà không cần phải có sự đồng ý của ông P.
Ngoài ra, từ lúc ông N nhận tặng cho từ ông P cho đến khi ông N tặng cho lại bà M, cả ông N và bà M không một ai có ý định đẩy ông P ra khỏi nhà đất mà ông P đang sinh sống. Ông P viết trong đơn khởi kiện “tại Văn phòng C2, N và bà M còn đe dọa tôi sẽ cho tôi ra gầm cầu, vĩa hè ở” là lời trình bày không có cơ sở, không có chứng cứ xác thực, mang tính chất bịa đặt, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của ông N và bà M.
Do đó, bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị Tuyết M và người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Phần đất diện tích 1.773,5 m² thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 67, tọa lạc tại xã A, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09251 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 09/11/2022 cho bà là Trịnh Thị Tuyết M. Ông N cần một số vốn để làm ăn, kinh doanh mở phòng Gym bên Hàn Quốc, bán phần đất này cho người khác thì không còn giữ được kỷ niệm của ông bà để lại, giao lại cho ông P là ông N không đồng ý vì ông P đã bán đi rất nhiều tài sản của ông bà nội để lại. Do đó, B1 và ông N thoả thuận, ông N giao phần đất này cho bà để bà giữ lại thờ cúng ông bà, bà sẽ cho ông N tiền để làm ăn. Hàng tháng ông N có cho ông P 3.000.000 đồng để sài thông qua bà, nay thì không còn cho nữa.
Ông P cho rằng hợp đồng tặng cho ông N là loại hợp đồng tặng cho có điều kiện là không có căn cứ vì trong Điều 2 Hợp đồng tặng cho ngày 22/02/2018 được lập tại Văn phòng công chứng đã xác định hợp đồng tặng cho không có điều kiện.
- Văn phòng C4 trình bày:
Ngày 22/02/2018, Ông Nguyễn Văn P đã đến trụ sở Văn phòng C yêu cầu Công chứng viên Văn phòng C chứng nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 67, địa chỉ xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 007475. Tại thời điểm công chứng ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn Minh N đã xuất trình đầy đủ giấy tờ pháp lý liên quan, đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tinh thần hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt. Các bên hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận và giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng ý ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng này trước sự chứng kiến của Công chứng viên Văn phòng C. Công chứng viên Văn phòng C đã chứng nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
Ngày 29/8/2018, Ông Nguyễn Minh N đã đến trụ sở Văn phòng C yêu cầu Công chứng viên Văn phòng C chứng nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 67, địa chỉ xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 027793. Tại thời điểm công chứng ông Nguyễn Minh N và bà Trịnh Thị Tuyết M đã xuất trình đầy đủ giấy tờ pháp lý liên quan, đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tinh thần hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt. Các bên hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận và giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng ý ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng này trước sự chứng kiến của Công chứng viên Văn phòng C. Công chứng viên Văn phòng C đã chứng nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
- Bản án sơ thẩm số 639/2023/DS-ST ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
- Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 007475, quyển số 01/2018/TP/VPCC-SCC/HĐGD ngày 22/02/2018 tại Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C) giữa ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn Minh N.
- Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 027793, ngày 29/8/2022 tại Văn phòng C giữa ông Nguyễn Minh N và bà Trịnh Thị Tuyết M.
- Hủy cập nhật trang 4 sang tên ông Nguyễn Minh N vào ngày 04/6/2018 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00615, ngày 30/9/2010 do UBND huyện C cấp đối với phần đất diện tích 1.773,5 m² thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 67, đất tọa lạc tại xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS09251, ngày 09/11/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp cho bà Trịnh Thị Tuyết M.
- Khôi phục lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00615, ngày 30/9/2010 do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn P.
Trong trường hợp không khôi phục lại được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00615, ngày 30/9/2010 do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn P, thì ông Nguyễn Văn P được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cấp lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông P đối với phần đất diện tích 1.773,5 m² thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 67, đất tọa lạc tại xã A, huyện C, theo bản vẽ hiện trạng vị trí ngày 15/02/2023 do Công ty TNHH MTV T2, xây dựng, đo đạc, bản đồ Hoàng T1 lập.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
- Ngày 24/10/2023, bà Trịnh Thị Tuyết M kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ngày 24/10/2023 ông Nguyễn Minh N kháng cáo, đề nghị huỷ án sơ thẩm do vi phạm thẩm quyền và cấp sơ thẩm đã không xem xét yêu cầu đề nghị áp dụng thời hiệu của bị đơn.
- Tại phiên toà phúc thẩm:
+ Nguyên đơn trình bày: Thời hiệu sẽ được tính kể từ ngày ông P biết việc ông N lập hợp đồng ký tặng tài sản cho bà M. Tính từ thời điểm ông P biết quyền và nghĩa vụ của mình bị xâm phạm này, thời hiệu yêu cầu giải quyết là còn thời hiệu. Điều kiện hợp đồng tặng cho là ông N đưa tiền hàng tháng cho nguyên đơn. Ông N đã vi phạm điều kiện của hợp đồng tặng cho. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người liên quan bà Trịnh Thị Tuyết M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
+ Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị xem xét huỷ án sơ thẩm, do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về thẩm quyền giải quyết vụ án và không xem xét yêu cầu áp dụng thời hiệu của bị đơn đã đưa ra tại phiên toà sơ thẩm.
+ Đại diện theo uỷ quyền của bà Trịnh Thị Tuyết M thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị huỷ án sơ thẩm như quan điểm của bị đơn.
+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về hình thức: đơn kháng cáo của bà Trịnh Thị Tuyết M và ông Nguyễn Minh N trong thời hạn luật định. Quá trình tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ chứng cứ và có quyết định phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh N và bà Trịnh Thị Tuyết M nộp trong thời hạn, đương sự đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm phù hợp quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, bản án sơ thẩm số 639/2023/DSST ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Tuyết M:
Ngày mở phiên toà sơ thẩm, ngày 06/10/2024, ông Đàm Trung T - đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu.
Cấp sơ thẩm cho rằng nội dung yêu cầu của ông T vượt quá phạm vi ông N ủy quyền cho ông; Tòa án tiến hành hòa giải, công khai chứng cứ, nhưng tại phiên hòa giải phía bị đơn không có yêu cầu gì liên quan đến yêu cầu này nên không có căn cứ chấp nhận.
Xét thấy, văn bản ủy quyền của ông Nguyễn Minh N uỷ quyền cho ông Đàm Trung T và/hoặc ông Trần Bình A đã được Đ tại Hàn Quốc chứng thực ngày 05/6/2023.
Tại điểm b Điều 2 văn bản uỷ quyền có nội dung: Trong quá trình thực hiện công việc được uỷ quyền, người được uỷ quyền từng người một được thực hiện các quyền như sau “...tham gia phiên toà (sơ thẩm, phúc thẩm) và đưa ra các quyết định về các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện công việc được uỷ quyền tại Toà án các cấp...”. Như vậy, người được uỷ quyền có quyền đưa ra ý kiến và quyết định tất cả các vấn đề trong quá trình tố tụng.
Cấp sơ thẩm cho rằng ông T được uỷ quyền tham gia khi Tòa án đã tiến hành hòa giải, công khai chứng cứ, nhưng tại phiên hòa giải lại không nêu ra yêu cầu về thời hiệu.
Khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: ... “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”.
Như vậy, việc đại diện hợp pháp của bị đơn đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu trước phiên toà sơ thẩm là yêu cầu phù hợp, có căn cứ pháp luật. Cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu này của bị đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể xem xét nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự qua hai cấp xét xử.
Cấp sơ thẩm cho rằng “...Bị đơn, ông Nguyễn Minh N; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Trịnh Thị Tuyết M hiện đang cư trú tại Hàn Quốc, trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ kiện thì ông N, bà M đã có lời khai trình bày ý kiến về nội dung vụ kiện, đã làm thủ tục ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng tại Việt Nam, Tòa án không cần phải ủy thác Tư pháp ra nước ngoài; tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Xét thấy, quan điểm này chưa phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 45 và Điều b khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định về “đương sự ở nước ngoài”.
Do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng nên huỷ án sơ thẩm, giao hồ sơ về Toà án cấp sơ thẩm. Lãnh đạo Toà sơ thẩm cần có văn bản xin ý kiến của Lãnh đạo Toà án Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án.
- Về án dân sự phúc thẩm: Do án sơ thẩm bị huỷ nên người kháng cáo không phải chịu án phí.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 310, khoản 6 Điều 313, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh N và bà Trịnh Thị Tuyết M.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh N và bà Trịnh Thị Tuyết M.
Tuyên xử:
- Huỷ Bản án sơ thẩm số 639/2023/DS-ST ngày 13/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để có văn bản xin ý kiến Lãnh đạo Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh về thẩm quyền giải quyết vụ án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Nguyễn Minh N là bà Trịnh Thị Tuyết M số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp 300.000 đồng theo 02 Biên lai thu số AA/2023/0018534 và AA/2023/0018533 ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Uông Văn Tuấn | Châu Thị Điệp |
| Lê Thị Ngọc Hương |
9
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Điệp |
10
Bản án số 357/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 357/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn P tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản với ông Nguyễn Minh N
