Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 357/2023/DS-PT

Ngày: 24/8/2023

V/v “Tranh chấp dân sự yêu

cầu trả giá trị đất và hợp đồng

vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương

Thủy

- Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt

Ông Nguyễn Tấn Tặng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Phan Trung Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 24/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự yêu cầu trả giá trị đất và hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Sa Đéc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:

338/2023/QĐ-PT ngày 7 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Bà Trần Kim Y, sinh năm 1946
  2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1940

Cùng địa chỉ: Số C, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Chị Nguyễn Kim T1, sinh năm 1971

Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Anh Đặng Minh T2, sinh năm 1981

Địa chỉ: Số A, đường số H, KP D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn:

  1. Anh Lê Tấn A, sinh năm 1983

Địa chỉ: Số B, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Anh Nguyễn Phú Q, sinh năm 1986

Địa chỉ: Số D, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền của anh A và anh Q: anh Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1984; Địa chỉ: khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1964
  2. Bà Nguyễn Kim K, sinh năm 1957

Cùng địa chỉ: Số D, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp cho anh Q, ông B, bà K: Anh Lê Tấn A, sinh năm 1983 (là đại diện ủy quyền theo văn bản ngày 08/6/2022, ngày 04/01/2023)

  1. Chị Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số G, khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Chị Phạm Thị T4, sinh năm 1983

Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Ông Võ Văn T5, sinh năm 1964

Địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: nguyên đơn Nguyễn Văn T và Trần Kim Y; bị đơn Nguyễn Phú Q.

Anh T2, anh A có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, anh Đặng Minh T2 đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Kim Y, ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Kim T1 trình bày:

Vào khoảng năm 2012, ông T, bà Y có vay tiền của Ngân hàng TMCP X– Phòng G số tiền 721.000.000đ. Để đảm bảo cho các nợ trên thì ông T, bà Y có mượn ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Kim K 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm thửa 14 tờ bản đồ 17, thửa 01 tờ bản đồ 17, thửa 17 tờ bản đồ 17, thửa 15 tờ bản đồ 32 và thửa 100 tờ bản đồ 20. Các thửa đất trên do ông B, bà K (cha, mẹ của bị đơn Nguyễn Phú Q) đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quá trình vay do làm ăn thua lỗ nên không có khả năng thanh toán nợ đến hạn theo hợp đồng tín dụng nên dư nợ vốn lãi là 1.385.338.000đ. Sau đó, ông T, bà Y thanh toán được số tiền là 620.000.000đ và ngân hàng giảm số tiền lãi là 385.338.000đ, còn lại là 380.000.000₫ vốn thì không còn khả năng thanh toán nên Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản đảm bảo (bảo lãnh) là 05 quyền sử dụng của ông B, bà K để thu hồi nợ.

Do có mối quan hệ thân thiết với gia đình nên anh Q, anh A thỏa thuận sẽ cho ông T, bà Y mượn tiền trả nợ ngân hàng nhưng yêu cầu ông T, bà Y và chị T1 phải để cho anh A, anh Q đứng tên các thửa đất do ông T, bà Y và chị T1 đứng tên, do đó:

Ngày 11/9/2015, chị T1 và anh Q đến Phòng công chứng số B tỉnh Đồng Tháp ký hợp chuyển nhượng thửa đất 65 do chị Nguyễn Kim T1 đứng tên cho anh Nguyễn Phú Q với giá là 70.000.000đ. Theo thỏa thuận giữa các bên, chị T1 và anh Q sẽ cùng đứng tên đồng sở hữu thửa đất 65, sau đó cùng thế chấp vay tiền ngân hàng trả khoản nợ của ông T, bà Y. Tuy nhiên, do không hiểu rõ quy định pháp luật nên trên hợp đồng chuyển nhượng chỉ có tên anh Q. Vì có thỏa thuận cùng đứng tên chung trên giấy đất nên thực tế chị T1 chưa có nhận số tiền chuyển nhượng 70.000.000đ.

Tiếp theo, ngày 23/10/2015, ông T, bà Y tiếp tục chuyển nhượng 03 thửa đất 509, 158, 162 do ông T, bà Y đứng tên cho anh A với số tiền là 280.000.000đ. Mục đích chuyển nhượng đất cho anh A là để anh A đưa tiền cho ông T, bà Y mượn để trả nợ ngân hàng lấy tài sản đảm bảo trả lại cho ông B, bà K. Khi đó các bên cũng có thỏa thuận miệng là để cho anh A và chị T1 (con bà Y, ông T) cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó anh A, chị T1 cùng thế chấp tài sản (03 thửa đất) vay tiền ngân hàng trả nợ lại cho anh A là 280.000.000đ. Tuy nhiên, sau đó trên hợp đồng chuyển nhượng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chỉ có tên anh A, không có tên chị T1

Mục đích thỏa thuận để chị T1 cùng đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo việc anh A, anh Q có thế chấp tài sản vay tiền ngân hàng thì chị T1 sẽ nắm rõ được số tiền vay.

Do 04 thửa đất chuyển nhượng cho anh A, anh Q có giá là 350.000.000đ, chưa đủ để trả số tiền nợ 380.000.000₫ của ngân hàng. Vì vậy, trước đó vào ngày 20/10/2015 ông T, bà Y còn thỏa thuận vay của anh Q số tiền 100.000.000đ. Việc vay tiền các bên có làm hợp đồng, có chứng thực của Phòng C, tỉnh Đồng Tháp.

Số tiền 280.000.000₫ chuyển nhượng đất cho anh A và 100.000.000đ tiền vay của anh Q. Anh A, anh Q không có trả trực tiếp cho ông T, bà Y mà thỏa thuận anh A nộp vào tài khoản của ông T để ngân hàng X trích ra trả nợ khoản vay còn lại 380.000.000đ cho ông T, bà Y.

Việc ông T, bà Y, chị T1 thỏa thuận mượn tiền anh A, anh Q nhưng phải làm hợp đồng chuyển nhượng và thỏa thuận để chị T1 cùng đứng tên chung với anh A, anh Q trên giấy, khi nào ông T, bà Y có tiền sẽ chuộc lại quyền sử dụng đất các bên chỉ thỏa thuận miệng, không có làm văn bản giấy tờ.

Sau đó, (không nhớ thời gian), ông T, bà Y đề nghị anh A, anh Q cho chuộc lại các thửa đất đã chuyển nhượng thì được biết thửa 65 chỉ có anh Q đứng tên trên giấy và thửa 509, 158, 162 chỉ có anh A đứng tên mà không có tên chị T1 cùng đồng sở hữu. Đồng thời ông T, bà Y có đề nghị anh A, anh Q cho chuộc lại 4 thửa đất trên với giá 380.000.000đ nhưng anh A, anh Q không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.

Do hiện nay các thửa đất 162, 158 cùng tờ bản đồ 05 hiện anh A đã chuyển nhượng cho chị T4, thửa 509 tờ bản đồ 03 đã chuyển nhượng cho chị Á và thửa đất số 65 tờ bản đồ 03 (chị T1 chuyển nhượng cho anh Q) đã chuyển nhượng cho ông T5. Nên ông T, bà Y và chị T1 không tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng và cũng không có yêu cầu gì đối với ông T5, chị Á và chị T4.

Nay ông T, bà Y và chị T1 yêu cầu anh A, anh Q trả giá trị đất đã chuyển nhượng.Theo biên bản định giá tài sản ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá, giá trị các thửa đất tranh chấp cụ thể:

  • + Thửa đất 509 tờ bản đồ 03 (tọa lạc tại khóm T, phường T, thành phố S) có giá trị là 1.563.780.000đ.
  • + Thửa 158, 162 tờ bản đồ 05 (tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố S) có giá trị là 822.960.000đ.

Tổng cộng là 2.386.740.000₫ – 280.000.000đ tiền chuyển nhượng ông T, bà Y đã nhận, còn lại 2.106.740.000đ, yêu cầu anh A phải trả lại cho bà Y, ông T.

Đối với thửa 65 tờ bản đồ 05 (tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố S). Khi thỏa thuận chuyển nhượng thửa này, anh Q chưa đưa tiền cho chị T1. Nay chị T1 yêu cầu anh Q có nghĩa vụ trả giá trị đất theo biên bản định giá ngày 22/11/2022 với số tiền là 372.580.000đ.

Đối với số tiền vay 100.000.000đ của anh Q theo hợp đồng vay ngày 20/10/2015, tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn không tự nguyện trả, đề nghị Tòa án tách ra để giải quyết bằng một vụ án khác khi anh Q có yêu cầu.

Ông T, bà Y, chị T1 không có yêu cầu ai khác cùng anh A và anh Q liên đới trả nợ. Ngoài ra, ông T, bà Y, chị T1 không còn yêu cầu gì khác

* Quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Lê Tấn A, anh Nguyễn Phú Q (anh Q ủy quyền cho anh A) trình bày:

Trước đây ông T, bà Y có vay tiền của nhiều Ngân hàng, không còn khả năng thanh toán nên chuyển thành nợ xấu. Nên ông T, bà Y có thỏa thuận mượn 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Kim K (ông B và bà Y là anh em cô cậu ruột) gồm thửa 14, 01, 17, 15, 100 tờ bản đồ 17, 32, 20 (đất tọa lạc xã H, huyện L, Đồng Tháp) do hộ ông B và bà K đứng tên để thế chấp cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh S vay số tiền 900.000.000₫ vào ngày 03/6/2010. Ngoài ra để đảm bảo cho khoản vay trên thì ông T, bà Y còn thế chấp các thửa đất khác do ông T, bà Y. Sau đó, ông T, bà Y có trả được một phần nợ nên Ngân hàng có trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Y.

Dư nợ còn lại 800.000.000đ, đến hạn thanh toán nợ nhưng bà Y, ông T không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng gởi thông báo cho ông T, bà Y, ông B và bà K yêu cầu trả nợ với số tiền vốn lãi tổng cộng là 1.385.338.000đ. Phía ngân hàng yêu cầu trả trước ngày 31/8/2015 thì sẽ giảm số tiền lãi là 385.338.000đ còn lại 1.000.000.000đ. Sau đó, ông T, bà Y trả được số tiền 620.000.000đ còn lại 380.000.000đ. Do chưa trả xong nợ nên ngân hàng vẫn chưa giải chấp trả lại 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B, bà K.

Ông T, bà Y cũng đã giao cho ngân hàng các tài sản gồm thửa đất 158, 162 do ông T, bà Y đứng tên và thửa đất số 65 do chị Nguyễn Kim T1 đứng tên để xử lý thu hồi nợ nhưng ngân hàng cũng không bán được do vị trí đất xấu, có mồ mã, ranh giới không rõ ràng.

Sau đó, ông T, bà Y và chị T1 có thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất 65, tờ bản đồ 03 diện tích 313m² do chị Nguyễn Kim T1 (con ông T, bà Y) đứng tên cho anh Q với số tiền 70.000.000đ. Các bên có làm hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 11/9/2015 tại Phòng C, tỉnh Đồng Tháp

Tiếp ngày 23/10/2015, ông T, bà Y làm hợp đồng chuyển nhượng thửa 158, 162 cùng tờ bản đồ 05 và thửa 509 tờ bản đồ 03 (thửa 509 đang thế chấp cho ngân hàng X) cho anh A với giá 280.000.000₫ (trong đó thửa 158 giá 70.000.000đ; thửa 162 là 50.000.000đ; thửa 509 là 160.000.000₫).

Số tiền chuyển nhượng 04 thửa đất trên là 350.000.000đ chưa đủ để trả nợ ngân hàng là 380.000.000₫ nên trước đó vào ngày 20/10/2015 ông T, bà Y thỏa thuận vay của anh Q số tiền 100.000.000₫ để bù 30.000.000₫ vào tiền chuyển nhượng trả nợ cho ngân hàng, còn 70.000.000đ tiền vay thỏa thuận để cho anh A đóng thuế và các chi phí chuyển nhượng.

Số tiền chuyển nhượng đất 350.000.000₫ và tiền vay 100.000.000đ không có đưa trực tiếp cho bà Y, ông T và chị T1 mà thỏa thuận với ông T, bà Y và phía ngân hàng, anh A sẽ nộp số tiền 380.000.000đ vào tài khoản của anh A trước, sau đó ngân hàng hỗ trợ các bên làm thủ tục chuyển nhượng (do ngân hàng đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T, bà Y, chị T1). Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng xong, anh A sẽ chuyển số tiền 380.000.000₫ (trong đó có 350.000.000đ tiền chuyển nhượng và 30.000.000đ tiền vay) vào tài khoản của ông T để ngân hàng trích ra thanh toán nợ vay của ông T, bà Y. Việc các bên thỏa thuận chuyển nhượng đất phía Ngân hàng có biết (vì ngân hàng đang giữ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 158, 162, 509). Thỏa thuận này có lập biên bản có mặt đại diện ngân hàng, anh Q và anh A nhưng không có ông T, bà Y.

Như vậy, anh A, anh Q đã giao đủ số tiền chuyển nhượng cho ông T, bà Y và chị T1. Đồng thời ông T, bà Y và chị T1 cũng đã giao đất cho anh A, anh Q quản lý. Ngày 11/11/2015, anh A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa 509, 162, 158), chỉnh lý trang 4. Cấp đổi lại đối với thửa 162 vào ngày 25/3/2016 và thửa 158 vào ngày 31/3/2016.

Đến ngày 25/11/2015, anh A chuyển nhượng thửa đất 509 cho chị Lê Thị Ngọc Á (chị anh A) với số tiền là 180.000.000đ, nhưng làm hợp đồng tặng cho để không phải chịu thuế. Ngày 19/4/2016, anh A chuyển nhượng thửa đất 158, 162 cho chị Phạm Thị T4 số tiền 130.000.000₫.

Đối với thửa đất 65 chị T1 chuyển nhượng cho anh Q. Ngày 29/9/2015, anh Q được cấp giấy (chỉnh lý trang 4), ngày 27/11/2015 anh Q cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 11/01/2016 anh Q chuyển nhượng lại cho ông T5 (số tiền bao nhiêu không nhớ).

Anh A, anh Q xác định, giữa các bên không có thỏa thuận gì việc mượn tiền, không có thỏa thuận để cho chị Nguyễn Kim T1 cùng đứng tên chủ sử dụng đất với anh A, anh Q và cũng không có thỏa thuận việc chuộc lại như lời trình bày của nguyên đơn.

Nay bị đơn anh A, anh Q không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện về việc trả giá trị quyền sử dụng theo giá mà Hội đồng định giá đã định, vì việc chuyển nhượng giữa các bên là hoàn toàn hợp pháp, đúng theo quy định. Anh A, anh Q đã giao đủ tiền chuyển nhượng và đã nhận đất sử dụng, sau đó cũng đã chuyển nhượng cho người khác.

Đối với số tiền 100.000.000đ theo hợp đồng vay ngày 20/10/2015. Anh Q không có yêu cầu giải quyết, thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị tách ra để giải quyết bằng một vụ án khác.

Trường hợp, buộc phải trả tiền cho ông T, bà Y và chị T1 thì anh A, anh Q cũng không có yêu cầu ai khác cùng liên đới.

Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ngọc Á trình bày:

Ngày 25/11/2015, chị Á có nhận chuyển nhượng thửa đất 509 (đất ở phường T) do anh A đứng tên với giá chuyển nhượng là 180.000.000đ nhưng các bên làm hợp đồng tặng cho để không phải chịu thuế sử dụng đất. Việc chuyển nhượng đất giữa chị Á và anh A là hoàn toàn hợp pháp, tại thời điểm chuyển nhượng không có phát sinh tranh chấp, hiện nay chị Á cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, việc tranh chấp giữa các bên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định, chị Á không có ý kiến hay tranh chấp gì.

Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị T4 trình bày:

Ngày 19/4/2016, chị T4 có nhận chuyển nhượng thửa đất 158, 162 (đất ở xã T) do anh A đứng tên với giá chuyển nhượng khoảng 100.000.000đ (không nhớ chính xác). Việc chuyển nhượng đất giữa chị T4 và anh A là hoàn toàn hợp pháp, tại thời điểm chuyển nhượng không có phát sinh tranh chấp, hiện nay chị T4 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, việc tranh chấp giữa các bên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định, chị T4 không có ý kiến hay tranh chấp gì.

Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T5 trình bày:

Ngày 11/11/2016, ông T5 có nhận chuyển nhượng thửa đất 65 (đất ở xã T) do anh Q đứng tên với giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 70.000.000đ. Việc chuyển nhượng đất giữa ông T5 và anh Q là hoàn toàn hợp pháp, tại thời điểm chuyển nhượng không có phát sinh tranh chấp, hiện nay ông T5 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, việc tranh chấp giữa các bên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định, ông T5 không có ý kiến hay tranh chấp gì.

Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Kim K (ủy quyền cho anh Lê Tấn A) trình bày:

Ông B, bà K thống nhất vào khoảng năm 2012, ông B và bà K có thế chấp 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm thửa 14 tờ bản đồ 17, thửa 01 tờ bản đồ 17, thửa 17 tờ bản đồ 17, thửa 15 tờ bản đồ 32 và thửa 100 tờ bản đồ 20 do ông B, bà K đứng tên để đảm bảo cho ông T, bà Y vay tiền của Ngân hàng TMCP X – Phòng G.

Hiện nay, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phía ngân hàng đã giải chấp và ông T, bà Y đã trả lại cho ông B, bà K. Nên trong vụ án này, ông B và bà K không có tranh chấp hay yêu cầu gì.

* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 05/5/2023, Toà án nhân dân Thành phố Sa Đéc đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim T1 về việc yêu cầu anh Nguyễn Phú Q trả giá trị quyền sử dụng đất.

Buộc anh Nguyễn Phú Q trả giá trị đối với phần đất thuộc thửa đất 65 tờ bản đồ 03 (tọa lạc tại xã T) cho chị Nguyễn Kim T1 số tiền là 372.580.000đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

(Có biên bản định giá tài sản ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá kèm theo).

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Trần Kim Y về việc yêu cầu anh Lê Tấn A trả giá trị đất đã chuyển nhượng
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • - Anh Nguyễn Phú Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 18.629.000₫ (Mười tám triệu sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng).
  • - Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Kim Y được miễn nộp án phí (do là người cao tuổi).
  • - Hoàn trả cho chị Trần Kim T6 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.520.000đ theo biên lai thu số 0000829 ngày 30/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sa Đéc
  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 800.000đ. Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Kim Y phải chịu số tiền là 400.000đ (đã nộp đủ và chi xong); Anh Nguyễn Phú Q phải chịu số tiền là 400.000đ. Do chị Nguyễn Kim T1 đã nộp số tiền 400.000₫ nên anh Q có trách nhiệm hoàn trả lại cho chị T1 số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm;

- Ngày 18/5/2023, ông Nguyễn Văn T và bà Trần Kim Y kháng cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, bà.

- Ngày 16/5/2023, anh Nguyễn Phú Q kháng cáo không đồng ý trả giá trị đất cho chị T1 đối với phần đất thuộc thửa đất 65 tờ bản đồ 03 với số tiền là 372.580.000₫.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

- Ông T, bà Y và người đại diện theo ủy quyền anh Q vẫn giữ nguyên kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của ông T, bà Y và anh Q là không có căn cứ; đối với kháng cáo của anh Q là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà Y; chấp nhận kháng cáo của anh Q.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của ông T, bà Y, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các bên đương sự, đã cho thấy, ngày 23/10/2015, bà Trần Kim Y, ông Nguyễn Văn T có thỏa thuận chuyển nhượng cho anh Lê Tấn A thửa 509 tờ bản đồ 03 (đất tọa lạc tại Phường T, thành phố S) và thửa đất 158, 162 cùng tờ bản đồ 05 (đất tọa lạc tại xã T, thành phố S), giá trị chuyển nhượng 03 thửa đất trên là 280.000.000đ. Mục đích chuyển nhượng đất cho anh A để có tiền trả nợ Ngân hàng X, lấy tài sản bảo đảm trả lại cho ông B, bà K. Các đương sự cũng đều thừa nhận anh A đã chuyển cho ông T số tiền 380.000.000đ để ông T, bà Y trả nợ cho ngân hàng. Trong số tiền 380.000.000₫ mà anh A chuyển cho ông T có bao gồm số tiền 280.000.000₫ là giá trị chuyển nhượng 03 thửa đất 162, 158 và 509. Như vậy, các bên đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ, anh A đã giao đủ tiền chuyển nhượng đất cho ông T. Phía ông T và bà Y cũng đã giao đất cho anh A quản lý, đăng ký kê khai và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/11/2015 (chỉnh lý trang 4).

Ngày 25/11/2015, anh A chuyển nhượng cho chị Lê Thị Ngọc Á thửa đất 509 nhưng làm hợp đồng tặng cho để không phải chịu thuế. Ngày 19/4/2016, anh A chuyển nhượng thửa đất 158, 162 cho chị Phạm Thị T4. Tại thời điểm anh A chuyển nhượng, tặng cho đất anh A đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thủ tục chuyển nhượng, tặng cho là hoàn toàn hợp pháp, đúng quy định.

Việc ông T, bà Y cho rằng không có chuyển nhượng đất cho anh A các bên chỉ thỏa thuận mượn tiền nhưng làm hợp đồng chuyển nhượng, việc mượn tiền không thỏa thuận lãi, không thỏa thuận thời hạn trả. Đồng thời, các bên còn có thỏa thuận miệng để cho chị Nguyễn Kim T1 (con bà Y, ông T) cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với anh A. Sau này ông T, bà Y có tiền sẽ chuộc lại các thửa đất trên nhưng do không am hiểu pháp luật nên trên hợp đồng chuyển nhượng chỉ có tên anh A (bên nhận chuyển nhượng) mà không có tên chị T1. Nhưng lời trình bày này của ông T, bà Y không được phía anh A thừa nhận và ông T, bà Y cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận giữa ông T, bà Y và anh A có thỏa thuận về việc chuyển nhượng đất. Tại thời điểm chuyển nhượng các bên có đầy đủ năng lực hành vi, việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên được lập thành văn bản, có chứng thực của Phòng công chứng số B tỉnh Đồng Tháp, nên hợp đồng chuyển nhượng được giao kết giữa các bên có hiệu lực pháp luật. Ông T, bà Y đã giao đất cho anh A quản lý và anh A cũng đã trả đủ số tiền chuyển nhượng 03 thửa đất cho ông T, bà Y xong, hợp đồng chuyển nhượng đã hoàn thành. Do đó, việc ông T, bà Y cho rằng các bên chỉ thỏa thuận để anh A, chị T1 cùng đứng tên trên giấy và thỏa thuận chuộc lại đất nên yêu cầu anh A phải trả giá trị đất đã chuyển nhượng tại thời điểm hiện nay là không có căn cứ chấp nhận.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông T, bà Y là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với số tiền vay 100.000.000đ theo hợp đồng vay ngày 21/10/2015. Quá trình tham gia tố tụng ông T, bà Y tự nguyện trả lại cho anh Q. Tại cấp sơ thẩm, ông T, bà Y đề nghị Tòa án tách ra để giải quyết bằng vụ kiện khác khi anh Q có yêu cầu; phía anh A cũng không có tranh chấp yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét cũng là phù hợp pháp luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của anh Q, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các đương sự đều trình bày thống nhất do ông Nguyễn Văn T, bà Trần Kim Y không còn khả năng thanh toán số tiền nợ còn lại là 380.000.000đ cho Ngân hàng TMCP X– Phòng G (viết tắt Ngân hàng X) để lấy 05 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã thế chấp cho ngân hàng trả lại cho ông B, bà K (cha mẹ của bị đơn Quí). Nên ông T, bà Y và chị T1 (con ông T, bà Y) có thỏa thuận chuyển nhượng đất cho anh Q, anh A để có tiền thanh toán nợ cho ngân hàng, cụ thể:

Ngày 11/9/2015 chuyển nhượng thửa đất 65 tờ bản đồ 03 (đất tọa lạc tại xã T, thành phố S) do chị Nguyễn Kim T1 đứng tên giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Phú Q với giá là 70.000.000đ. Ngày 23/10/2015, chuyển nhượng 03 thửa đất 509, 158 cùng tờ bản đồ 05 (đất tọa lạc tại xã T, thành phố S) và thửa đất số 162 tờ bản đồ 03 (đất tọa lạc tại phường T, thành phố S) do ông T, bà Y đứng tên giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho anh Lê Tấn A với giá là 280.000.000đ.

Do 04 thửa đất chuyển nhượng cho anh Q, anh A có giá trị là 350.000.000đ, chưa đủ để trả số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng là 380.000.000đ. Nên vào ngày 20/10/2015 ông T, bà Y có thỏa thuận vay của anh Q số tiền 100.000.000đ. Việc chuyển nhượng đất và vay tiền các bên có làm hợp đồng, có chứng thực của Phòng C, tỉnh Đồng Tháp.

Về phía chị T1 cho rằng do ông T, bà Y cần tiền để trả nợ ngân hàng nên chuyển nhượng đất cho anh Q nhưng thỏa thuận để chị T1 cùng đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, anh A chỉ chuyển vào tài khoản của ông T số tiền 380.000.000₫ gồm 280.000.000đ tiền chuyển nhượng 03 thửa đất do ông T, bà Y đứng tên và 100.000.000₫ ông T, bà Y vay của anh Q. Số tiền 70.000.000đ, chuyển nhượng thửa đất 65 cho anh Q đến nay anh Q chưa có trả cho chị T1.

Phía anh Q, anh A thì cũng đều thống nhất số tiền chuyển nhượng 04 thửa đất là 350.000.000đ và tiền vay là 100.000.000đ, tổng cộng là 450.000.000đ. Nhưng anh A, anh Q không có trả tiền trực tiếp cho bà Y, ông T và chị T1 mà thỏa thuận chuyển vào tài khoản của ông T để trả số tiền nợ của ông T, bà Y với Ngân hàng X1. Ngày 23/10/2015, anh A đã chuyển số tiền 380.000.000đ vào tài khoản của ông T để ông T tất toán với Ngân hàng. Anh A và anh Q cho rằng số tiền 380.000.000₫ chuyển cho ông T nói trên thì trong đó có 350.000.000đ tiền chuyển nhượng 04 thửa đất trên và 30.000.000đ tiền vay (nằm trong khoản tiền vay 100.000.000₫ mà anh Q cho ông T, bà Y vay), còn lại 70.000.000đ thì anh A dùng để đóng thuế và các chi phí khác trong thủ tục chuyển nhượng.

Tuy nhiên, theo tài liệu chứng cứ do bên phía bị đơn cung cấp cũng như lời trình bày của các đương sự thể hiện số tiền mà anh A, anh Q đưa cho ông T, bà Y (bằng hình thức chuyển vào tài khoản của ông T) là 380.000.000đ, số tiền này trùng khớp với số tiền mà ông T, bà Y chuyển nhượng 03 thửa đất cho anh A là 280.000.000đ và 100.000.000₫ ông T, bà Y vay của anh Q. Như vậy lời khai của chị T1 hoàn toàn phù hợp với tài liệu chứng cứ mà bị đơn cung cấp. Việc bị đơn anh A, anh Q cho rằng trong số tiền 380.000.000₫ mà anh A chuyển cho ông T có 70.000.000đ tiền chuyển nhượng thửa đất 65 của chị T1. Nhưng lời trình bày này của bị đơn không được phía chị T1 thừa nhận và anh Q cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh giữa hai bên có thỏa thuận việc trích số tiền 70.000.000₫ cho anh A đóng thuế và chi các chi phí khác trong thủ tục chuyển nhượng và đồng thời trên thực tế phía anh A cũng đã đóng thuế và chi các chi phí khác trong thủ tục chuyển nhượng 04 thửa đất này tổng cộng 70.000.000đ; hoặc anh Q cũng không chứng minh được anh đã trả cho chị T1 70.000.000đ tiền chuyển nhượng thửa đất 65.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T1 về việc buộc anh Q phải có nghĩa vụ trả tiền giá trị đất của thửa đất 65 tại thời điểm hiện nay với số tiền 372.580.000₫ (99,3m² đất thổ x 1.600.000đ/m² + 213,7m đất trồng cây lâu năm x 1.000.000đ/m²) là có căn cứ. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Q.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự kháng cáo cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, bà Y, là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Đối với đề nghị chấp nhận kháng cáo của anh Q, không buộc anh Q phải có nghĩa vụ trả số tiền chuyển nhượng đất cho chị T1 vì cho rằng anh Q đã trả xong số tiền chuyển nhượng cho chị T1, là chưa có cơ sở, vì như nhận định trên, là tổng số tiền mà anh A, anh Q đưa cho ông T, bà Y (bằng hình thức chuyển vào tài khoản của ông T) chỉ là 380.000.000đ, là bao gồm 280.000.000đ tiền chuyển nhượng của 03 thửa đất do ông T, bà Y đứng tên (hợp đồng chuyển nhượng cho anh A) và 100.000.000đ ông T, bà Y vay của anh Q. Còn việc phía anh A, anh Q cho rằng trong số tiền 380.000.000₫ mà anh A chuyển cho ông T có 70.000.000đ tiền chuyển nhượng thửa đất 65 do chị T1 đứng tên + 280.000.000đ tiền chuyển nhượng 03 thửa đất do ông T, bà Y đứng tên và 30.000.000đ tiền vay (trong 100.000.000₫ tiền vay); số còn lại 70.000.000đ là để anh A dùng để đóng thuế và chi các chi phí khác trong thủ tục chuyển nhượng các thửa đất nêu trên, nhưng lời trình bày này là không có cơ sở, vì không có gì để chứng minh và phía ông T, bà Y và chị T1 cũng đều không thừa nhận. Nên không chấp nhận đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên ông T, bà Y và anh Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Đều 500 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 167 của Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà Y và anh Q.
  • - Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 05/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim T1 về việc yêu cầu anh Nguyễn Phú Q trả giá trị quyền sử dụng đất.

Buộc anh Nguyễn Phú Q trả giá trị đối với phần đất thuộc thửa đất 65 tờ bản đồ 03 (tọa lạc tại xã T) cho chị Nguyễn Kim T1 số tiền là 372.580.000₫ (Ba trăm bảy mươi hai triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

(Có biên bản định giá tài sản ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá kèm theo).

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Trần Kim Y về việc yêu cầu anh Lê Tấn A trả giá trị đất đã chuyển nhượng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • - Anh Nguyễn Phú Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 18.629.000₫ (Mười tám triệu sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng).
  • - Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Kim Y được miễn nộp án phí (do là người cao tuổi).
  • - Hoàn trả cho chị Trần Kim T6 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.520.000đ theo biên lai thu số 0000829 ngày 30/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sa Đéc
  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 800.000đ. Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Kim Y phải chịu số tiền là 400.000đ (đã nộp đủ và chi xong); Anh Nguyễn Phú Q phải chịu số tiền là 400.000đ. Do chị Nguyễn Kim T1 đã nộp số tiền 400.000₫ nên anh Q có trách nhiệm hoàn trả lại cho chị T1 số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng).
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  • + Anh Nguyễn Phú Q phải chịu 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0015178 ngày 16/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Anh Q đã nộp xong án phí phúc thẩm.
  • + Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Kim Y được miễn theo quy định của pháp luật.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐ & KT TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 357/2023/DS-PT ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự yêu cầu trả giá trị đất và hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 357/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự yêu cầu trả giá trị đất và hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: 1. Bà Trần Kim Y, sinh năm 1946 2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1940 Cùng địa chỉ: Số C, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. 3. Chị Nguyễn Kim T1, sinh năm 1971 Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Anh Đặng Minh T2, sinh năm 1981 Địa chỉ: Số A, đường số H, KP D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Bị đơn: 1. Anh Lê Tấn A, sinh năm 1983 Địa chỉ: Số B, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. 2. Anh Nguyễn Phú Q, sinh năm 1986 Địa chỉ: Số D, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Đại diện theo ủy quyền của anh A và anh Q: anh Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1984; Địa chỉ: khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger