|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 357/2024/HS-ST Ngày 04-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung.
- Ông Phan Văn Cường.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 359/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 375/2024/QĐXX-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Minh T, sinh năm 1992 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn L, sinh năm 1964 và bà Lê Thị H, sinh năm 1962; bị cáo có 02 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001, bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/3/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 16/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/8/2018 tại trại giam T1, đóng án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 25/4/2013 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã liên đới bồi thường xong cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2024 cho đến nay có mặt phiên tòa.
- Bị hại: Anh Quách Trọng Q, sinh năm 2002; thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Quách Văn N, sinh năm 1991; thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1975 – Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng điện nước Ngọc H2; địa chỉ: Số E khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 10/2018, Phạm Minh T sinh sống và mở tiệm cắt tóc tại đường N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Anh Quách Trọng Q là bạn cùng quê với T và thường đến tiệm của T để cắt tóc.
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 14/7/2022, anh Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh-trắng, biển số 36M5-049.59 (số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245) đến tiệm của T để cắt tóc. Tại đây, T hỏi mượn anh Q xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 36M5-049.59 để đi ăn cơm thì anh Q đồng ý, do sợ bị Công an bắt nên T mượn luôn giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Sau khi được anh Q giao xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe, T điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 36M5-049.59 đi ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày thì T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Q nên T không trả xe mà đem chiếc xe mô tô của anh Q đến tiệm cầm đồ “Ngọc Hạnh” tại địa chỉ số A đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương do ông Bùi Văn H1 làm chủ để cầm cố lấy số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), thời hạn cầm từ ngày 14/7/2022 đến ngày 14/8/2022. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, do không thấy T đem xe về trả nên anh Q gọi điện thoại cho T đòi lại xe thì T nói xe đã bị Công an bắt giữ. Đến chiều cùng ngày, T tiếp tục đến tiệm cầm đồ “Ngọc Hạnh” để chủ tiệm cho cầm thêm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), sau đó cầm thêm 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Tổng cộng T đã cầm chiếc xe mô tô trên 03 lần lấy số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).
Vào chiều ngày 15/7/2022, T nói cho anh Q biết đã đem xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 36M5- 049.59 trên của anh Q đi cầm tại tiệm cầm đồ “Ngọc H2” với số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Lúc này, T hứa hẹn với anh Q một tuần sau chuộc xe mô tô ra trả lại cho anh Q và đưa hợp đồng cầm xe mô tô cho anh Q giữ thì anh Q đồng ý. Đến hẹn, T không có tiền chuộc lại xe nên tiếp tục hẹn anh Q thêm hai tháng nữa để đi làm kiếm tiền chuộc lại xe mô tô thì anh Q đồng ý. Vào ngày 14/8/2022, T đến tiệm cầm đồ “Ngọc H2” đóng tiền lãi cho ông H2 số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng). Đến ngày 13/9/2022, anh Q không thấy T chuộc xe mô tô trả lại nên anh Q đến Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương trình báo. Sau đó Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương lập hồ sơ chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương thụ lý.
Theo Kết luận định giá tài sản số 159/BBĐG-HĐĐGTS ngày 07/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, kết luận về giá của tài sản: xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter màu xanh - trắng, số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245 biển số 36M5-049.59 (sử dụng tháng 08/2014) trị giá là 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản Phạm Minh T chiếm đoạt của anh Quách Trọng Q là 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
Ngày 07/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Minh T, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter màu xanh - trắng, số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245 biển số 36M5-049.59;
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 36M5-049.59 (số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245), chủ xe Quách Văn N (sinh năm 1991; HKTT tại thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa).
Cáo trạng số: 366/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- Xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh - trắng, biển số 36M5-049.59 (số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 36M5-049.59 (số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245). Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên đứng tên sở hữu ông Quách Văn N. Vào năm 2022, ông Quách Văn N cho cháu là anh Quách Trọng Q mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả xe mô tô trên và giấy đăng ký xe cho ông Quách Văn N.
Đối với hành vi của anh Bùi Văn H1 - Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng điện nước Ngọc H2 không biết tài sản do Phạm Minh T phạm tội mà có, do thời điểm cầm cố T nói xe của T mua lại, có giấy tờ xe đầy đủ hợp lệ, có căn cước công dân của T. Đối với hành vi của Bùi Văn H1 nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác không chính chủ, không có giấy ủy quyền hợp lệ, thời điểm phát hiện vi phạm là ngày 13/9/2023 đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị hại anh Quách Trọng Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Quách Văn N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.
+ Ông Bùi Văn H1 yêu cầu Phạm Minh T bồi thường số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng), ngoài ra không yêu cầu gì khác. Bị cáo Phạm Minh T chưa bồi thường.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 14/7/2022, tại đường N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Phạm Minh T có hành vi mượn xe mô tô, biển số 36M5-049.59 của anh Quách Trọng Q để đi mua cơm. Sau khi ăn cơm, Phạm Minh T không trả lại xe mô tô cho anh Quách Trọng Q mà lấy lý do xe bị công an bắt giữ để không trả lại xe cho bị hại và mang xe mô tô đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
[3] Như vậy, hành vi của bị cáo sau khi nhận tài sản của bị hại rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản có giá trị 24.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 366/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải.
[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, lần phạm tội này của bị cáo thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: 01 (một) mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh - trắng, biển số 36M5-049.59 (số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 36M5-049.59 (số khung: 5P10EY422229, số máy: 55P1422245), là tài sản của anh Quách Văn N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe cho anh Nguyễn L1 phù hợp;
[10] Đối với hành vi của anh Bùi Văn H1 - Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng điện nước Ngọc H2 không biết tài sản do Phạm Minh T phạm tội mà có, do thời điểm cầm cố T nói xe của T mua lại, có giấy tờ xe đầy đủ hợp lệ, có căn cước công dân của T.
Đối với hành vi của Bùi Văn H1 nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác không chính chủ, không có giấy ủy quyền hợp lệ, thời điểm phát hiện vi phạm là ngày 13/9/2023 đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Bùi Văn H1 – Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng điện nước Ngọc H2 số tiền 16.000.000 đồng nên ghi nhận.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng mức hình phạt có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát.
[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đa, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 468, 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2024.
Buộc bị cáo Phạm Minh T bồi thường cho anh Bùi Văn H1 – Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng điện nước Ngọc H2 số tiền 16.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Bị cáo Phạm Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng |
Bản án số 357/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 357/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Minh Thiệu phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
