Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

Thành phố Hồ Chí Minh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 357 2024/DS -ST

Ngày: 27-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Phạm Thị Kim Hoàng
  • 2/ Bà Lê Thị Phước Mãng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Quí – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh Đào – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 109/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2024/QĐXXST- DS ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T

Địa chỉ trụ sở: Lầu 8,9,10 tòa nhà G, số B P, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Đỗ Văn D, sinh năm: 1993; địa chỉ liên lạc: Lầu H tòa nhà G, số B P, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 231128-15-CCO ngày 28/11/2023) (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Từ Chí H, sinh năm: 1981; Địa chỉ: 3 Bến P, Phường 1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay ông Từ Chí H đang chấp hành án tại Trại giam X, tỉnh Đồng Nai) (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2022, bản tự khai ngày 15/7/2024 nguyên đơn Công ty T (say đây viết là Công ty T) do ông Đỗ Văn D là người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 25/11/2020 ông Từ Chí H đã ký hợp đồng tín dụng số: 2W019265494 với Công ty T. Theo hợp đồng thì Công ty T cho ông H vay số tiền là 45.000.000₫ (Bốn mươi lăm triệu đồng) để mua xe máy nhãn hiệu HONDA AIR BLADE, biển số 59K2-614.77, số khung RLHK4107 LZ482592, số máy:KF41E-0088814, theo hợp đồng thì vào ngày 22 hàng tháng, ông H phải thanh toán cho Công ty T số tiền là: 4.437.772 đồng liên tục trong 15 kỳ trả góp bắt đầu từ ngày 22/12/2020 đến ngày 22/02/2022. Tài sản thế chấp là 1- HONDA AIR BLADE, số khung RLHK4107 LZ482592, số máy: KF41E-0088814 theo Hợp đồng thế chấp số: 2W019265494 ngày 25/11/2020. Kể từ khi ký hợp đồng ông H chưa thanh toán cho Công ty T bất kỳ khoản tiền nào. Nay Công ty T yêu cầu ông H phải trả cho Công ty T SAISON tiền vốn gốc là: 45.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là: 10.481.958 đồng, tiền lãi quá hạn là: 5.933.580 đồng. Tổng cộng là: 61.415.538 đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Công ty T không yêu cầu ông H thanh toán thêm các khoản lãi phát sinh. Tuy nhiên, kể từ ngày Công ty T có đơn yêu cầu thi hành án thì buộc ông Từ Chí H phải chịu lãi suất chậm thanh toán. Nếu ông H không thanh toán số tiền nêu trên thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 4 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Đối với tài sản thế chấp là 1- HONDA AIR BLADE, số khung RLHK4107 LZ482592, số máy: KF41E- 0088814 theo Hợp đồng thế chấp số: 2W019265494 ngày 25/11/2020 thì Công ty T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/8/2024 Bị đơn ông Từ Chí H trình bày:

Vào tháng 11/2020 do có người cần mua xe Air Blade nên thông qua người môi giới ông ký hồ sơ vay tiền dùm để lấy tiền cho người cần mua xe, tiền hoa hồng ký hồ sơ vay tiền dùm là 3.000.000 đồng. Ông đồng ý hồ sơ vay tiền dùm để được nhận tiền hoa hồng là 3.000.000 đồng. Do đó, vào ngày 25/11/2020, ông có đến ký vay số tiền 45.000.000 đồng để mua xe máy AirBlade, sau khi ký xong hợp đồng thì ông không có nhận tiền vay mà chỉ nhận tiền hoa hồng là 3.000.000 đồng từ người môi giới.

Tại buổi làm việc hôm nay, sau khi được tiếp cận các chứng cứ do Tòa án cung cấp gồm: Hợp đồng vay ngày 25/11/2020, hợp đồng thế chấp ngày 25/11/2020; Giấy đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử ngày 25/11/2020 thì ông xác nhận là ông có ký hợp đồng vay với Công ty T để vay số tiền là 45.000.000 đồng. Ông xác nhận chữ ký và chữ viết trên hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, Giấy đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử là chữ ký, chữ viết của ông. Ông xác nhận ông chỉ vay tiền dùm cho người khác nhưng ông cũng không biết người ông đã vay dùm tiền là ai và đang ở đâu. Nay ông cũng đồng ý trả nợ cho Công ty T vì ông đã ký tên trên hợp đồng vay. Việc ông vay dùm tiền thì ông cũng không có tranh chấp trong vụ án này.

Nay ông xác nhận còn nợ Công ty T SAISON số tiền vốn vay là 45.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là: 10.481.958 đồng, lãi quá hạn là: 5.933.580 đồng. Tổng cộng là: 61.415.538 đồng. Hiện nay ông đang chấp hành án tại Trại giam X nên ông không có khả năng để trả nợ. Tháng 12/2024 ông chấp hành án xong và được trở về ông sẽ xin việc làm và sẽ trả dần tiền cho Công ty T.

Về tài sản thế chấp là chiếc xe máy Air Blade biển số 59K2-614.77 thì ông không biết chiếc xe máy này đang do ai quản lý, sử dụng. Công ty T không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thì ông cũng đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70,71,72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Công ty T khởi kiện yêu cầu ông Từ Chí H phải thanh toán tiền gốc và tiền lãi phát sinh đối với khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 2W019265494 ngày 25/11/2020, mục đích vay: mua xe gắn máy. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Đỗ Văn D và bị đơn là ông Từ Chí H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W019265494 ngày 25/11/2020; hợp đồng tín dụng số 2W019265494 ngày 25/11/2020 và lời trình bày của các đương sự có cơ sở xác định ông H đã vay của Công ty T số tiền là 45.000.000 đồng đến nay vẫn chưa thanh toán; mục đích vay là mua sản phẩm được tài trợ là 01 Honda Air B. Thời hạn vay là 15 tháng, lãi suất thực tế hàng tháng là 4,67%. Hàng tháng ông H phải thanh toán theo phương thức trả góp 15 kỳ, mỗi kỳ thanh toán số tiền là: 4.437.772 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay trên thì ông H đã thế chấp bằng chính sản phẩm được mua tài trợ là 01 Honda Air Blade, số khung RLHK4107 LZ482592, số máy: KF41E-0088814.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán chưa thanh toán được khoản tiền nào cho công ty T. Vì vậy, nay Công ty T yêu cầu ông H phải thanh toán số tiền vốn vay còn thiếu là: 45.000.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.

Về tiền lãi: Sau khi vay tiền thì ông H đã không trả tiền vốn và tiền lãi hàng tháng cho Công ty T. Nay Công ty T SAISON chỉ yêu cầu ông H thanh toán tiền lãi trong hạn từ ngày 22/12/2020 đến 22/05/2021 (06 tháng tiền lãi trong hạn) với số tiền là: 10.481.958 đồng và tiền lãi quá hạn là từ ngày 22/12/2020 đến 22/4/2021 (04 tháng) với số tiền là: 5.933.580 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào bảng chi tiết tính lãi mà Công ty T cung cấp thì nếu căn cứ theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết thì tiền lãi mà ông H phải trả trong 15 kỳ là: 17.853.285 đồng. Tuy nhiên, nay Công ty T chỉ yêu cầu ông H trả tiền lãi tổng cộng là: 16.415.538 đồng là có lợi cho ông H nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, buộc ông Từ Chí H phải trả cho Công ty T SAISON số tiền vốn vay là: 45.000.000 đồng và tiền lãi là: 16.415.538 đồng. Tổng cộng là: 61.415.538₫ (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm mười lăm ngàn năm trăm ba mươi tám đồng) kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Công ty T không yêu cầu ông H phải trả lãi phát sinh mà chỉ yêu cầu khi nào công ty T có đơn yêu cầu thi hành án thì ông H phải chịu lãi chậm thanh toán theo quy định của pháp luật. Việc này là có lợi cho ông H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Xét hợp đồng thế chấp số 2W019265494 ngày 25/11/2020

Để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 2W019265494 ngày 25/11/2020 thì ông H đã thế chấp 1- HONDA AIR BLADE, số khung RLHK4107 LZ482592, số máy: KF41E- 0088814 cho Công ty T theo Hợp đồng thế chấp số: 2W019265494 ngày 25/11/2020.

Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện cũng như tại đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và không xử lý tài sản thế chấp ngày 15/7/2024 thì Công ty T không yêu cầu giải quyết đối với tài sản bảo đảm này. Tại biên bản lấy lời khai của ông H thì ông H cũng nêu ý kiến là nếu Công ty T không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong vụ án này thì ông cũng đồng ý.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự thì “đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.

Trong vụ án này Công ty T không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng thế chấp số 2W019265494 ngày 25/11/2020 để xử lý tài sản bảo đảm mà ông H đã thế chấp cho Công ty T. Vì vậy, nếu sau này công ty T hoặc ông Từ Chí H có tranh chấp đối với đồng thế chấp số 2W019265494 ngày 25/11/2020 sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H phải nộp án phí trên số tiền phải trả cho Công ty T là: 61.415.538 đồng x 5% = 3.070.777đ (Ba triệu không trăm bảy mươi ngàn bảy trăm bảy mươi bảy đồng).

Công ty T không phải nộp án phí, trả lại cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 1.535.388đ (Một triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn ba trăm tám mươi tám đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD SAI SON

  1. Buộc ông Từ Chí H thanh toán cho Công ty T số tiền vốn và tiền lãi của khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 2W019265494 ngày 25/11/2020 với tổng số tiền là: 61.415.538₫ (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm mười lăm ngàn năm trăm ba mươi tám đồng), trong đó: vốn vay là 45.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là: 10.481.958 đồng, lãi quá hạn là: 5.933.580 đồng
  2. - Thời hạn thanh toán: thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật .

  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  5. - Ông Từ Chí H phải nộp án phí là: 3.070.777đ (Ba triệu không trăm bảy mươi ngàn bảy trăm bảy mươi bảy đồng).

    - Công ty T không phải nộp án phí, trả lại cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 1.535.388đ (Một triệu năm trăm ba mươi lăm ngàn ba trăm tám mươi tám đồng) theo biên lai thu số 0009792 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 6
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 357/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 357/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger