Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 357/2024/HSPT

Ngày: 05/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông

Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương

Bà Nguyễn Thị Quyên

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Tống Thị Thu H – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31 tháng 7 năm 2024 và ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 192/2024/HSPT ngày 08/5/2024 đối với bị cáo Nguyễn C và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HSST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:

  1. Nguyễn C, sinh năm: 1989 tại Quảng Bình. Nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức N và bà Nguyễn Thị K (đã chết); vợ Hoàng Thị H1 và 02 con (lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/9/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2012; đã nộp án phí HSST, HSPT vào ngày 06/02/2012). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  2. Nguyễn Sỹ H2, sinh năm: 1991 tại Quảng Bình. Nơi đăng ký thường trú: Thôn D Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi sinh sống: Khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức N và bà Nguyễn Thị K (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  3. Hoàng Trọng K1 sinh năm: 1994 tại Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi sinh sống: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (Không đăng ký tạm trú); Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Trọng T và bà Võ Thị H3; vợ Trần Thị P và 02 con (lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/7/2021 bị Công an huyện T, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi sử dụng công cụ kích điện đánh bắt thủy sản trái phép. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo C, H2, K1: Ông Phan Ngọc T1 – Luật sư đoàn luật sư T5 – Công ty L Địa chỉ: 1 Đường số H, P.L, TP ., TP . Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn X, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Phùng Thị H4- Công ty L1+. Địa chỉ: Số D.39-40 B, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07/02/2023, Nguyễn C nhận được video từ facebook của chị Nguyễn Thị Phương N1 (chị ruột C) có nội dung ghi lại cảnh chị N1 và anh Nguyễn Văn X (chồng cũ) quan hệ tình dục với nhau nên C điện thoại hỏi chị N1 có gửi cho C video trên không, thì chị N1 nói video trên ông C gửi cho cậu đó. Nghe vậy, C bực tức nên nói lại cho Nguyễn Sỹ H2 (em ruột) nghe và rủ H2 đi xuống nhà anh X ở xã B, huyện L để nói chuyện, H2 đồng ý. C điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) của C chở H2 cùng đi, khi đi ngang qua quán của Hoàng Trọng K1 ở ấp B, xã P, huyện N thì K1 nhìn thấy nên điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chạy theo (Kiệp cũng nhận được đoạn video như C). Khi đến nhà anh X, C dựng xe trước cổng thì K1 cũng vừa chạy tới. Lúc này, C gọi cửa thì được T2 (con anh X) ra mở cổng để C, H2K1 đi vào phòng khách chờ, còn T2 đi vào phòng ngủ gọi anh X. Khoảng 05 phút sau anh X đi ra, C nói “Tại sao anh

lại gửi và đăng video này”, anh X nói “Tao không biết video gì hết” thì C nói “Nếu anh không nhận thì tôi đưa ra Công an xã để giải quyết”. Lúc đầu, anh X đi ra xe nhưng sau đó thì không đồng ý đi và nói “Để tao gọi Công an” rồi quay vào nhà. Thấy anh X không chịu đi C liền ra xe lấy 01 sợi dây thun (màu xanh) vào trói tay anh X lại rồi lên xe ngồi trước, còn K1H2 mỗi người mỗi bên kẹp nách khống chế kéo anh X ra cổng buộc ngồi lên xe mô tô cho C điều khiển chở anh X ngồi giữa, K1 ngồi sau giữ anh X, còn H2 điều khiển xe của K1 đi theo sau. Trên đường đi, H2 ghé nhà đón Nguyễn Thị Phương N1 và tất cả đi đến Công an thị trấn H, huyện N thì gặp anh Nguyễn Quốc T3 là bảo vệ đang trực ở cổng Ủy ban nhân dân thị trấn H và được anh T3 hướng dẫn đến Công an xã B, huyện L để trình báo và yêu cầu tháo dây trói cho anh X. Lúc này, xe của C bị xì hơi nên chuyển sang xe của K1, K1 điều khiển xe chở anh X ngồi giữa, C ngồi sau giữ khống chế anh X, còn H2 điều khiển xe của C tất cả cùng đi đến Công an xã B, huyện L. Cùng ngày, anh X làm đơn tố cáo hành vi bắt người trái pháp luật của C, H2K1 tại Công an xã B. Sau đó, Công an xã B đã lập hồ sơ chuyển cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 0337/KLTTCT-TTPYĐN ngày 15/5/2023 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đ, kết luận:

  1. Các kết quả chính: Khám giám định, khám chuyên khoa, cận lâm sàng.
    • Gãy xương sườn số 9 bên trái, can xấu. Tỷ lệ: 2,5%.
    • Gãy cung sau xương sườn số 11 bên phải không xác định được thời gian gãy. Tỷ lệ: 2,5%.
    • Không định tỷ lệ cho chấn thương đầu, mặt và bụng hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.
  2. Kết luận:

    Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của nạn nhân Nguyễn Văn X- 1978 tại thời điểm giám định là 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

  3. Kết luận khác:
    • Vật gây thương tích:
    • + Chấn thương mặt: Vật tày.

3

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HSST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tuyên xử:

Căn cứ Điều 269, Điều 298, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Sỹ H2Hoàng Trọng K1 phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.

Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

+ Bị cáo Nguyễn Sỹ H2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

+ Bị cáo Hoàng Trọng K1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Sỹ H2Hoàng Trọng K1 phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn X số tiền 38.203.000 (Ba mươi tám triệu, hai trăm lẽ ba nghìn) đồng. Mỗi bị cáo phải bồi thường 12.734.000 đồng (tính tròn).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

3.1 Ngày 01/3/2024, bị hại Nguyễn Văn X có Đơn kháng cáo đề nghị hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HSST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành với các lý do sau:

  • Cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị hại bị thương tích 5% nhưng không điều tra, làm rõ dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung như sử dụng hung khí nguy hiểm;
  • Cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm rõ thiệt hại về tài sản, chưa làm rõ dấu hiệu “Cố ý làm hư hỏng tài sản hoặc hủy hoại tài sản” của các bị cáo;
  • Cơ quan tiến hành tố tụng thiếu sót trong việc làm rõ nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn C và đồng phạm. Đặc biệt, Cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo Nguyễn C được xóa án tích dựa trên việc hoàn thành việc chấp hành án nhưng lại chưa làm rõ bị cáo đã hoàn thành phần nghĩa vụ án phí dân sự và án phí chưa?;
  • Việc Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với dấu hiệu côn đồ, phạm tội có tổ chức của các bị cáo và cho áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là không đúng;
  • Mức bồi thường chưa thỏa đáng;

3.2 Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Sỹ H2 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để có điều kiện đi làm nuôi mẹ già;

3.3 Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị cáo Hoàng Trọng K1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để có điều kiện đi làm nuôi con nhỏ;

3.4 Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để có điều kiện đi làm nuôi gia đình;

4. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận Đơn kháng cáo của các bị cáo, không chấp nhận Đơn kháng cáo của bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Các bị cáo Nguyễn C, Hoàng Trọng K1, Nguyễn Sỹ H2 và bị hại Nguyễn Văn X có Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung Đơn kháng cáo của các bị cáo, cũng như Đơn kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn X, Hội dồng xét xử xác định:

5

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn C, Hoàng Trọng K1, Nguyễn Sỹ H2 khai nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm, không kêu oan mà chỉ đế nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Do đó, án sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Sỹ H2, Hoàng Trọng K1 về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Người bị hại Nguyễn Văn X không đồng ý với Bản án sơ thẩm và có Đơn kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Đối với nội dung Đơn kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử xác định:

[2.2.1] Đối với nội dung kháng cáo của bị hại cho rằng: “Cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị hại bị thương tích 5% nhưng không điều tra, làm rõ dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung như sử dụng hung khí nguy hiểm và xem xét việc bồi thường”:

- Về sức khỏe bị xâm phạm của bị hại anh Nguyễn Văn X.

Hồ sơ vụ án thể hiện:

Tại Giấy chứng nhận thương tích số: 16/23/CN cấp cho Nguyễn Văn X ngày 07/4/2023 của Bệnh viện Đ2- Đồng Nai (BL50); 02 đơn thuốc ngày 08/02/2023 (BL51-52); 01 kết quả siêu âm ngày 08/02/2023 (BL53); 02 kết quả X-Quang ngày 08/02/2023 (BL 54-56); 01 kết quả X-Quang ngày 13/02/2023 (BL:67); 01 kết quả CT-Scanner ngày 08/02/2023 của Bệnh viện Đ2 mang tên Nguyễn Văn X (BL55).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 0337/KLTTCT-TTPYĐN ngày 15/5/2023 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đ, kết luận (BL42): Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn X- 1978 tại thời điểm giám định là 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư. Vật gây thương tích: vật tày.

Tại các bản lời khai của bị hại Nguyễn Văn X tại Cơ quan điều tra Công an huyện L (tại các BL: 119, 120, 121, 122, 123), bị hại anh X khai: “……… cả 03 người đánh đập bằng tay, chân nhiều cái vào người tôi” nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại khai các bị cáo có dùng cây húc vào hông (lời khai này của bị hại Nguyễn Văn X không được các bị cáo thừa nhận) và bị hại Nguyễn Văn X cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình;

Biên bản xác minh ngày 20/02/2024 tại Bệnh viện Đ2 (BL271) ghi nhận: “Bệnh viện chỉ khám và ghi nhận là bệnh nhân bị gãy cung xương sườn số 09, còn việc dẫn đến gãy cung xương sườn số 9 do lực tác động nào thì không rõ”

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên, cấp sơ thẩm xác định anh Nguyễn Văn X bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 05% (Năm phần trăm) là do hành vi bắt người trái pháp luật của các bị cáo đã gây ra.

Do tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại anh Nguyễn Văn X 05% (Năm phần trăm) không đủ căn cứ để khởi tố vụ án “với dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết định khung như: Sử dụng hung khí nguy hiểm, phạm tội có tính chất côn đồ” như bị hại nêu. Ngoài ra, việc bị hại anh X yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là không có cơ sơ chấp nhận.

[2.2.2] Đối với nội dung kháng cáo của bị hại cho rằng: “Cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm rõ thiệt hại về tài sản, chưa làm rõ dấu hiệu “Cố ý làm hư hỏng tài sản hoặc hủy hoại tài sản” của các bị cáo”;

Về tài sản bị thiệt hại:

Bị hại anh Nguyễn Văn X khai: Tài sản các bị cáo đập phá, gây hư hỏng gồm có: 01 cánh cửa sắt phòng ngủ, 01 bộ camera, 01 điện thoại di động hiệu SamSung J7 Pro nhưng tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Sỹ H2Hoàng Trọng K1 khôn thừa nhận, không có hành vi đập phá làm hư hỏng các tài sản của anh X nên không đồng ý bồi thường.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/02/2023, kèm theo bản ảnh khám nghiệm hiện trường (BL: 66 - 173b); Biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc ngày 08/02/2023 (BL: 174) thể hiện: không ghi nhận thiệt hại về tài sản, không thu giữ được vật chứng gì liên quan đến tài sản như bị hại Nguyễn Văn X đã khai nại.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại Nguyễn Văn X cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho tài sản bị thiệt hại là do các bị cáo gây ra, phù hợp lời khai người làm chứng Nguyễn Trí T4 (BL: 214- 215).

Tại biên bản ghi lời khai người làm chứng Nguyễn Trí T4 vào ngày 27/12/2023 (BL: 214- 215) “C, H2K1 vào nhà không ai có hành vi đập phá tài sản trong nhà...” “cánh cửa phòng ngủ khi xảy ra sự việc ngày 07/02/2023 thì không còn, bị hư hỏng trước đó, tôi tháo ra mang đi sửa nhưng không được...”.

7

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại Nguyễn Văn X khai “camera gắn tại phòng khách đã bị hư hỏng từ trước đó, không còn sử dụng được, 01 điện thoại di động hiệu S đã bị C giật lấy ném vào tường nhà gây hư hỏng, hiện tại không rõ ở đâu”

Bị hại ngoài lời trình bày, không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho thiệt hại tài sản đã nêu. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xác định các bị cáo đã có hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” nên yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của bị hại là không có cơ sở chấp nhận.

[2.2.3] Đối với nội dung kháng cáo của bị hại cho rằng: “Trong vụ án, ngoài các bị cáo C, H2K1 còn có Phạm Tấn Đ cùng tham gia”.

Qua điều tra làm việc tại cấp sơ thẩm, anh Phạm Đ không thừa nhận cùng các bị cáo đến nhà anh X, lời khai của các bị cáo C, H2K1 tại phiên tòa cũng xác định anh Đ không có tham gia trong vụ án.

Tại biên bản ghi lời khai người làm chứng Nguyễn Trí T4 vào ngày 27/12/2023 (BL: 214- 215) thể hiện “... vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 07/02/2023 đến nhà tôi chỉ có 03 người gồm: C, H2K1 ngoài ra không còn ai khác”.

Do đó, ngoài lời khai của bị hại Nguyễn Văn X không có chứng cứ nào khác chứng minh cho việc có anh Phạm Tấn Đ cùng tham gia trong vụ án.

[2.2.4] Đối với nội dung kháng cáo của bị hại cho rằng: “Cơ quan tiến hành tố tụng thiếu sót trong việc làm rõ nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn C và đồng phạm. Đặc biệt, Cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo Nguyễn C được xóa án tích dựa trên việc hoàn thành việc chấp hành án nhưng lại chưa làm rõ bị cáo đã hoàn thành phần nghĩa vụ án phí dân sự và án phí chưa?”

Hồ sơ vụ án thể hiện:

- Bản án hình sự phúc thẩm số 302/2011/HSPT ngày 29/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (BL: 78-79) xử phạt bị cáo Nguyễn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Hủy hoại tài sản”;

- Công văn số 1550/XN ngày 28/8/2023 của Trại giam X1 thuộc Cục C1- Bộ C2 xác định (BL: 80): bị cáo Nguyễn C đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án nêu trên vào ngày 01/9/2012;

- Công văn số 94/CV-THADS vào ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch xác định (BL: 81): bị cáo Nguyễn C đã nộp án phí HSST và án phí HSPT theo Biên lai thu tiền số 04621 ngày 06/02/2012;

Trên cơ sở quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xác định nội dung kháng cáo của bị hại về nội dung nêu trên là chưa chính xác.

[2.2.5] Đối với nội dung kháng cáo của bị hại cho rằng: “Việc Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với dấu hiệu côn đồ, phạm tội có tổ chức của các bị cáo và cho áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là không đúng”;

Qua nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ; cũng như lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng thì Hội đồng xét xử không có cơ sở để xác định các bị cáo phạm tội “có tính chất côn đồ” theo điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; cũng như không có dấu hiệu “phạm tội có tổ chức” theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Bộ luật hình sự: việc cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là có cơ sở;

[2.2.6] Các nội dung khác:

Đối với chị Nguyễn Thị Phương N1, không có hành vi đồng phạm với các bị cáo trong việc bắt anh X trái pháp luật nên Cơ quan điều tra không khởi tố.

Riêng hành vi gửi và nhận video ghi lại cảnh quan hệ tình dục giữa ông X và chị N1. Do, không xác định được người gửi nội dung đoạn video nên không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

[2.3] Đối với nội dung Đơn kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xác định:

Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài các tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá, không có tình tiết nào khác làm thay đổi bản chất của vụ án.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận Đơn kháng cáo của các bị cáo, cũng nhưng không chấp nhận Đơn kháng cáo của bị hại. giữ nguyên bản án sơ thẩm (rút kinh nghiệm cấp sơ thẩm về cách tuyên “Thời hạn tù” đối với các bị cáo đang tại ngoại là chưa chính xác)

9

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Đối với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, ý kiến của các bị cáo, ý kiến của vị luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại và bị hại đã được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Sỹ H2, Hoàng Trọng K1; không chấp nhận Đơn kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn X. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn C 01 (một) năm tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án;

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
    • + Bị cáo Nguyễn Sỹ H2 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án;
    • + Bị cáo Hoàng Trọng K1 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án;
  4. Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự.
  5. Buộc các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Sỹ H2Hoàng Trọng K1 phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn X số tiền 38.203.000 (Ba mươi tám triệu, hai trăm lẽ ba nghìn) đồng. Mỗi bị cáo phải bồi thường 12.734.000 đồng (tính tròn).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  6. Về án phí hình sự phúc thẩm:
  7. Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn C, Nguyễn Sỹ H2Hoàng Trọng K1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  9. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân H.Long Thành;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H.Long Thành;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H.Long Thành;
  • - Công an; H.Long Thành;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo – Nhà tạm giữ CA.VC (2);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phương Đ1

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 357/2024/HSPT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 357/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07/02/2023, Nguyễn C nhận được video từ facebook của chị Nguyễn Thị Phương N1 (chị ruột C) có nội dung ghi lại cảnh chị N1 và anh Nguyễn Văn X (chồng cũ) quan hệ tình dục với nhau nên C điện thoại hỏi chị N1 có gửi cho C video trên không, thì chị N1 nói video trên ông C gửi cho cậu đó. Nghe vậy, C bực tức nên nói lại cho Nguyễn Sỹ H2 (em ruột) nghe và rủ H2 đi xuống nhà anh X ở xã B, huyện L để nói chuyện, H2 đồng ý. C điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) của C chở H2 cùng đi, khi đi ngang qua quán của Hoàng Trọng K1 ở ấp B, xã P, huyện N thì K1 nhìn thấy nên điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chạy theo (Kiệp cũng nhận được đoạn video như C). Khi đến nhà anh X, C dựng xe trước cổng thì K1 cũng vừa chạy tới. Lúc này, C gọi cửa thì được T2 (con anh X) ra mở cổng để C, H2 và K1 đi vào phòng khách chờ, còn T2 đi vào phòng ngủ gọi anh X. Khoảng 05 phút sau anh X đi ra, C nói “Tại sao anh lại gửi và đăng video này”, anh X nói “Tao không biết video gì hết” thì C nói “Nếu anh không nhận thì tôi đưa ra Công an xã để giải quyết”. Lúc đầu, anh X đi ra xe nhưng sau đó thì không đồng ý đi và nói “Để tao gọi Công an” rồi quay vào nhà. Thấy anh X không chịu đi C liền ra xe lấy 01 sợi dây thun (màu xanh) vào trói tay anh X lại rồi lên xe ngồi trước, còn K1 và H2 mỗi người mỗi bên kẹp nách khống chế kéo anh X ra cổng buộc ngồi lên xe mô tô cho C điều khiển chở anh X ngồi giữa, K1 ngồi sau giữ anh X, còn H2 điều khiển xe của K1 đi theo sau. Trên đường đi, H2 ghé nhà đón Nguyễn Thị Phương N1 và tất cả đi đến Công an thị trấn H, huyện N thì gặp anh Nguyễn Quốc T3 là bảo vệ đang trực ở cổng Ủy ban nhân dân thị trấn H và được anh T3 hướng dẫn đến Công an xã B, huyện L để trình báo và yêu cầu tháo dây trói cho anh X. Lúc này, xe của C bị xì hơi nên chuyển sang xe của K1, K1 điều khiển xe chở anh X ngồi giữa, C ngồi sau giữ khống chế anh X, còn H2 điều khiển xe của C tất cả cùng đi đến Công an xã B, huyện L. Cùng ngày, anh X làm đơn tố cáo hành vi bắt người trái pháp luật của C, H2 và K1 tại Công an xã B. Sau đó, Công an xã B đã lập hồ sơ chuyển cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger