Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 357/2024/HS-PT

Ngày 17 tháng 5 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu.

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông-Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Văn L về tội “Tham ô tài sản” và tội “Rửa tiền”; Nguyễn Lan A, Nguyễn Thị N, Ngô Trương Ngọc B, Đặng Thị H, Trần Hậu N1, Nguyễn Huy V về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”; Nguyễn Trần Ngọc D về tội “Rửa tiền”.

Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh Q và Nguyễn Lan A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 563/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 245/2024/QĐPT-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Minh Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 30/4/1973, tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi ĐKTT: SỐ E T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giám đốc Bệnh viện thành phố T; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ2, đã bị Ủy ban kiểm tra Thành ủy Thành phố H ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ngày 08/8/2022; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; bị cáo có vợ và 2 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 07/11/2021 (có mặt).

  2. Nguyễn Lan A (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/8/1984, tại Bình Thuận.

    Nơi cư trú: Số D đường D, khu dân cư N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Phó giám đốc Bệnh viện thành phố T; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ2, đã bị Ủy ban kiểm tra Thành ủy thành phố T ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ngày 26/4/2023; con ông Nguyễn Trường Q1 và bà Nguyễn Thị C; bị cáo có chồng và 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 14/01/2023 (có mặt).

Bị cáo không có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05/12/1986, tại Tiền Giang.

    Nơi cư trú: Số D P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH T14; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ1; bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 24/02/2023.

  2. Ngô Trương Ngọc B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 22/7/1987, tại An Giang.

    Nơi cư trú: Số E C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Trưởng phòng Phòng vật tư trang thiết bị y tế Bệnh viện thành phố T; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ2, đã bị Ủy ban kiểm tra Thành ủy T ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ngày 26/4/2023; con ông Ngô Văn Ú và bà Trương Kim L1; bị cáo có chồng và 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  3. Nguyễn Huy V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11/3/1980, tại Tiền Giang.

    Nơi cư trú: Số A đường A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên Phòng vật tư trang thiết bị y tế Bệnh viện thành phố T; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ2, đã bị Ủy ban kiểm tra Thành ủy thành phố T ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ngày 26/4/2023; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lưu Thị S; bị cáo có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 14/01/2023.

  4. Đặng Thị H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/8/1985, tại Hà Tĩnh.

    Nơi ĐKTT: SỐ D P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số D B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kế toán trưởng Bệnh viện thành phố T; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ2, đã bị Ủy ban kiểm tra Thành ủy thành phố T ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ngày 26/4/2023; con ông Đặng Đình P (đã chết) và bà Lê Thị H1; bị cáo có chồng và 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 14/01/2023.

  5. Nguyễn Thị N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/12/1973, tại Nam Định.

    Nơi ĐKTT: Số 147/31 T, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số A đường số 1, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Phó Giám đốc Bệnh viện thành phố T; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ2, đã bị Ủy ban kiểm tra Thành ủy thành phố T ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ngày 26/4/2023; con ông Nguyễn Anh V1 và bà Đặng Thị T2; bị cáo có chồng và 01 con, sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 14/01/2023.

  6. Trần Hậu N1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/4/1986, tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi ĐKTT: SỐ A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH T15; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn T3 (đã chết) và bà Phan Thị X1; bị cáo có vợ và 03 con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 14/01/2023.

  7. Nguyễn Trần Ngọc D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 16/11/1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi ĐKTT: SỐ C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Số C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH N6; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Tấn C1 và bà Trần Thị Ngọc H2; bị cáo có chồng và 02 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Bệnh viện thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số B P, phường T, thành phố thủ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp, theo giấy ủy quyền số 3398/GUQ-BV ngày 17/11/2023), gồm:

  1. Ông Hoàng Văn D1, sinh năm 1983; chức vụ: Phó giám đốc Bệnh viện.

  2. Ông Dương Minh T4, sinh năm 1974; chức vụ: Trường P3.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ: Số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1973; chức vụ: Trưởng phòng Y tế thành phố T (theo giấy ủy quyền số 7238/GUQ-UBND ngày 23/11/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T).

  2. Sở Y tế Thành phố H.

    Địa chỉ: Số E N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện hợp pháp, theo ủy quyền số 10502 /GUQ-SYT ngày 29/11/2023 của Sở Y tế Thành phố H, gồm:

    1. Ông Hồ Văn H3; chức vụ: Chánh Thanh tra Sở Y tế.

    2. Bà Đinh Thị Hoài T5; chức vụ: Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính, Sở Y tế.

  3. Công ty TNHH T16.

    Địa chỉ: Số A N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Bà Đồng Thị Xuân T6.

  4. Công ty TNHH D5.

    Địa chỉ: Số A T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị Bích C2.

  5. Công ty TNHH T14.

    Địa chỉ: Số C P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn L (là bị cáo trong vụ án).

  6. Công ty TNHH N6.

    Địa chỉ: Số D N, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Trần Ngọc D (là bị cáo trong vụ án).

  7. Công ty TNHH S2.

    Địa chỉ: Số C L, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  8. Ngân hàng TMCP K5.

    Địa chỉ: Số F Q, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

    Đại diện hợp pháp, theo giấy ủy quyền số 1282-02/2023/GUQ-TCB ngày 21/11/2023 của Ngân hàng TMCP K5, gồm:

    1. Ông Nguyễn Đức T7, sinh năm 1982.

    2. Ông Phạm Ngọc K1, sinh năm 1998.

  9. Công ty Cổ phần T17.

    Địa chỉ: Số B N, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  10. Công ty Cổ phần Đ3.

    Địa chỉ: Số I Đ, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  11. Bà Ngô Thị Mỹ P1, sinh năm 1992.

    Địa chỉ: Số C block A, chung cư F, đường số F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  12. Bà Trần Thị Huyền T8, sinh năm 1989.

    Địa chỉ: Số A B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  13. Bà Trịnh Thị Thùy D2, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Số A đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  14. Bà Nguyễn Lê Nhật K2, sinh năm 1986.

    Địa chỉ: Số A tỉnh lộ D phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  15. Bà Vương Thị S1, sinh năm 1985.

    Địa chỉ: Số B đường B, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  16. Bà Huỳnh Đặng Thanh T9, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: Số A Hòa Bình, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  17. Bà Lê Thị M, sinh năm 1970.

    Địa chỉ: P chung cư L, F M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  18. Ông Lương Hoàng L2, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: Số E N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  19. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1989.

    Địa chỉ: B chung cư C P, phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  20. Bà Lê Thị Minh Y, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Số D K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  21. Bà Mai Thanh T10, sinh năm 1994.

    Địa chỉ: Số F đường A, tổ B, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  22. Bà Phạm Thị Mai H4, sinh năm 1992.

    Địa chỉ: Số D T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  23. Bà Nguyễn Thị Thu N3, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: Số C C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  24. Bà Đỗ Thị Thanh N4, sinh năm 1994.

    Địa chỉ: Số C P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  25. Bà Đồng Thị Xuân T6, sinh năm 1978.

    Địa chỉ: Số H N, phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  26. Bà Phạm Thị Bích C2, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: Số C P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  27. Ông Phạm Hoài D3, sinh năm 1994.

    Địa chỉ: Số E L, phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  28. Ông Phan Ngọc Â, sinh năm 1985.

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  29. Ông Nguyễn T11, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: Số D N, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  30. Bà Lê Thị K3, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: Số B Q, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  31. Bà Võ Thị Hồng H5, sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Số D D, phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  32. Bà Nguyễn Thị T12, sinh năm 1994.

    Địa chỉ: Số D H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  33. Bà Phạm Thị Thanh V2, sinh năm 1997.

    Địa chỉ: Số C P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  34. Bà Lê Kiều Tường V3, sinh năm 1994.

    Địa chỉ: Số D L, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  35. Bà Trịnh Nguyễn Ánh N5, sinh năm 1994.

    Địa chỉ: Số A Q, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  36. Bà Lê Thị Như Ý, sinh năm 1990.

    Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  37. Bà Trương Thị Bảo T13, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: Số B đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  38. Ông Ngô Văn D4, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: Số A N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  39. Bà Bùi Thị L3.

    Địa chỉ: Số E N, phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh Q: Luật sư Nguyễn Văn H6, Công ty L4, Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).

  2. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lan A: Luật sư Quảng Khoa Toản, Công ty L5, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Trong vụ án, có một số bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bệnh viện thành phố T (Bệnh viện T), tiền thân là Trung tâm Y tế huyện T, sau đó là Bệnh viện quận T trực thuộc UBND quận T. Từ ngày 17/3/2020, Bệnh viện T trực thuộc Sở Y tế Thành phố H; là đơn vị sự nghiệp y tế công lập, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Từ năm 2007, Nguyễn Minh Q được giao giữ chức vụ Giám đốc, chủ tài khoản của Bệnh viện T, có trách nhiệm quản lý, sử dụng, tổ chức và bảo đảm kinh phí hoạt động của Bệnh viện theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ quy định về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập.

Từ năm 2016 đến năm 2020, Bệnh viện T đã tổ chức đấu thầu 31 gói thầu mua sắm trang thiết bị y tế, để phục vụ công tác khám chữa bệnh. Trong đó, có 28 gói thầu đã phê duyệt kết quả trúng thầu và đã hoàn thành việc thanh toán với tổng giá trị 346.276.724.000 đồng. Nguyễn Minh Q lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao đã thông qua việc sử dụng các công ty “sân sau” để nâng khống giá thiết bị y tế bán vào bệnh viện; điều hành chi phối các bị cáo khác là nhân viên dưới quyền cố tình vi phạm các quy định về đấu thầu; thực hiện các hành vi rửa tiền để hợp thức nguồn tiền đã chiếm đoạt trái pháp luật, hành vi cụ thể của các bị cáo được xác định như sau:

Để chuẩn bị cho việc tham gia đấu thầu Nguyễn Minh Q đã chỉ đạo Nguyễn Văn L (là người làm thuê cho vợ chồng Q) thành lập, sử dụng các Công ty, gồm: Công ty TNHH N6 (Công ty N6), do Nguyễn Trần Ngọc D (vợ của Q) là người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, D có văn bản ủy quyền cho Nguyễn Văn L là người đại diện theo pháp luật; Công ty TNHH T14 (Công ty T14), do Nguyễn Văn L đứng tên chủ sở hữu và đại diện theo pháp luật; Công ty TNHH T16 (Công ty T16), do Đồng Thị Xuân T6 (vợ của Nguyễn Văn L) là người đại diện theo pháp luật và Công ty TNHH D5 (Công ty D5), do Phạm Thị Bích C2 là người đại diện theo pháp luật (kiêm kế toán Công ty T14).

Khi tham gia đấu thầu trang thiết bị y tế vào Bệnh viện T, Q chỉ đạo L giao cho nhân viên lập các hợp đồng mua bán khống, lòng vòng giữa các Công ty trong nhóm để nâng giá thiết bị máy móc cao hơn giá thị trường. Sau đó, sử dụng 03 trong nhóm 04 Công ty nêu trên để nộp hồ sơ dự thầu với giá máy móc thiết bị đã được nâng khống. Khi làm hồ sơ tham gia đấu thầu, L chỉ đạo làm 01 hồ sơ có tiêu chí tốt hơn 02 hồ sơ còn lại, mục đích để 01 công ty trúng thầu.

Tại Bệnh viện T, Nguyễn Minh Q thành lập tổ mua sắm do Ngô Trương Ngọc B (Trưởng phòng Vật tư) làm Tổ trưởng và Nguyễn Huy V (nhân viên Phòng Vật tư), Đặng Thị H (Trưởng đơn vị đầu tư dự án) là thành viên. Mặc dù, biết rõ các Công ty do Nguyễn Văn L điều hành, quản lý đều là công ty “sân sau” của Nguyễn Minh Q nhưng theo chỉ đạo của Q, tổ mua sắm đã thực hiện các hành vi sai phạm để công ty này trúng thầu, cụ thể:

Đặng Thị H đã liên hệ với các khoa, phòng của B1 viện tiếp nhận đề xuất mua trang thiết bị y tế để lập danh mục dự trù mua sắm.

Ngô Trương Ngọc B liên hệ với Nguyễn Văn L lấy các báo giá, cấu hình kỹ thuật trang thiết bị y tế. Sau đó, phối hợp với H lập dự toán mua sắm trang thiết bị y tế để Q ký, trình Sở Y tế Thành phố H và UBND quận T xin phê duyệt. Các thành viên tổ mua sắm không trực tiếp tiến hành thẩm định giá dự toán của các thiết bị máy móc mà lấy báo giá đã bị L chỉ đạo nâng khống dẫn đến giá dự toán đưa vào hồ sơ thầu cao hơn giá nhập khẩu nhiều lần.

Sau khi được phê duyệt dự toán mua sắm, Bệnh viện T tổ chức đấu thầu rộng rãi, Ngô Trương Ngọc B liên hệ và phối hợp cho nhóm công ty của L nộp hồ sơ tham gia dự thầu. Quá trình thực hiện thủ tục đấu thầu, B giao cho Nguyễn Huy V xây dựng hồ sơ mời thầu, hoàn thiện hồ sơ đề xuất kỹ thuật, hồ sơ đề xuất tài chính, đồng thời lập các Báo cáo: Thẩm định hồ sơ mời thầu; thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất về kỹ thuật; thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ về tài chính, ấn định cho nhóm công ty của L trúng thầu và được thanh toán các hợp đồng với giá máy móc, thiết bị đã được nâng khống. Sau đó, V căn cứ vào vị trí, nhiệm vụ của các thành viên trong các tổ đấu thầu của Bệnh viện để chuyển các tài liệu trên cho các thành viên ký hợp thức, hoàn thiện thủ tục đấu thầu.

Theo đó, để hợp thức hóa các sai phạm trong việc tổ chức đấu thầu, Nguyễn Minh Q còn ký các quyết định thành lập các tổ thực hiện hoạt động đấu thầu và giao cho Nguyễn Thị N và Nguyễn Lan A đều là Phó giám đốc Bệnh viện, làm tổ trưởng các tổ, cụ thể: Theo phân công của Q, Nguyễn Thị N là Tổ trưởng Tổ soạn thảo hồ sơ mời thầu, Tổ trưởng Tổ mời thầu, Tổ trưởng Tổ chuyên gia xét thầu; Nguyễn Lan A là Tổ trưởng Tổ thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu mua sắm máy móc, trang thiết bị y tế năm 2016, 2017 và 2018. Do được Q chỉ đạo thông qua các cuộc họp giao ban nên N và A không phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong tổ, không nghiên cứu báo cáo đánh giá của tổ thẩm định mà chỉ ký trên báo cáo thẩm định do P2 Vật tư trang thiết bị y tế soạn sẵn để hoàn thiện hồ sơ, ấn định cho các công ty của L trúng thầu các gói thầu mua sắm của Bệnh viện T và được thanh toán các hợp đồng trái quy định của pháp luật.

Riêng trong năm 2018 và 2019, Bệnh viện T có thuê đơn vị tư vấn, thẩm định đấu thầu là Công ty Cổ phần T17 và Công ty Cổ phần Đ3. Các gói thầu nêu trên chỉ có 03 Công ty, gồm: Công ty T14, Công ty T16, Công ty D5 mua hồ sơ thầu và tham gia dự thầu. Nguyễn Văn L đã chỉ đạo xây dựng hồ sơ thầu theo các tiêu chí để Công ty T14 trúng thầu nên kết quả tư vấn, thẩm định của Công ty T17 và Công ty Đ3 xác định Công ty T14 đủ điều kiện trúng thầu.

Từ năm 2016 đến 2020, nhóm 04 Công ty do Nguyễn Văn L quản lý, đã tham gia đấu thầu và trúng thầu 27/28 gói thầu tại Bệnh viện T, với tổng giá trị 345.026.724.000 đồng.

Về giá trị của các trang thiết bị trúng thầu: Kết quả định giá của Hội đồng định giá Bộ Y1 định giá đối với 03/27 gói thầu (05 thiết bị) xác định giá thị trường tại thời điểm trúng thầu đối với 05 thiết bị nêu trên là 112.163.010.968 đồng. Tổng giá trúng thầu là 149,51 tỷ đồng, giá phụ kiện mua thêm là 3.581.086.499 đồng. Thiệt hại là 33.765.902.532 đồng. Kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thành phố Hồ Chí Minh đối với 24/27 gói thầu (211 thiết bị) xác định giá thị trường tại thời điểm trúng thầu đối với 136 thiết bị là 81.495.279.295 đồng; đối với 75 thiết bị còn lại thì không đủ căn cứ pháp lý để kết luận định giá. Tổng giá trúng thầu 129.017.500.000 đồng. Thiệt hại của 24 gói thầu (136 thiết bị) là 47.522.260.706 đồng. Theo kết quả định giá tổng thiệt hại của 27 gói thầu (còn 75 thiết bị không đủ căn cứ định giá) là 81.288.123.238 đồng.

Cơ quan điều tra xác định được tổng số tiền lợi nhuận của 04 Công ty do L quản lý là 102,52 tỷ đồng. L đã chỉ đạo nhân viên chuyển cho vợ chồng Q, D tổng số 103.638.745.623 đồng (đây được xác định là số tiền do nâng khống giá thiết bị y tế).

Để che giấu số tiền 102,52 tỷ đồng chiếm đoạt (trong số tiền 103.638.745.623 đồng mà L đã chuyển cho vợ chồng Q), Q chỉ đạo L mở tài khoản tại Ngân hàng M1 chi nhánh K6 mang tên Nguyễn Văn L nhưng đăng ký số điện thoại của Q để nhận tiền chuyển vào cho Q sử dụng; hợp thức thanh toán các hợp đồng mua bán khống, nâng giá máy móc, thiết bị trước khi bán cho Bệnh viện T; chuyển tiền vào các tài khoản cá nhân của Nguyễn Trần Ngọc D; chuyển tiền mặt và thanh toán tiền tiền mua bất động sản, xe ô tô cho vợ chồng Q, D.

Nguyễn Văn L đã trực tiếp hoặc chỉ đạo nhân viên chuyển tiền cho Q, D như sau: Chuyển khoản 04 lần, tổng số 21.545.800.000 đồng cho Nguyễn Minh Q sử dụng cá nhân; đưa tiền mặt cho Q 03 lần, tổng số 5.500.000.000 đồng; thanh toán tiền xăng xe ô tô cho Q 13.015.000 đồng; chuyển khoản vào các tài khoản của D 16.173.252.624 đồng; thanh toán thẻ Visa 56.452.642 đồng; đưa tiền mặt cho D 45.000.000 đồng để mua vàng miếng; thanh toán tiền mua tài sản cho Q và D tổng số 60.406.677.981 đồng để mua các tài sản.

Đối với một số cá nhân là nhân viên của Bệnh viện T làm thành viên của các Tổ liên quan đến hoạt động đấu thầu, đã ký hoàn thiện các thủ tục, hợp thức hồ sơ đấu thầu do Nguyễn Huy V soạn sẵn. Tuy nhiên, các cá nhân nêu trên không biết các công ty tham gia thầu và trúng thầu đều là của Nguyễn Văn L và Nguyễn Minh Q cũng như việc gian lận trong đấu thầu để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, không được hưởng lợi; quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác và phối hợp với cơ quan điều tra để làm rõ vụ án. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với những cá nhân nêu trên.

Đối với các cá nhân thuộc nhóm công ty do Nguyễn Văn L quản lý:

Nguyễn Trần Ngọc D là Giám đốc Công ty N6 nhưng đã ủy quyền cho Nguyễn Văn L người điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động của Công ty, không tham gia trao đổi, ký kết các hồ sơ thầu. Công ty N6 trúng 03/27 gói thầu không có cơ sở xác định thiệt hại do không có căn cứ định giá. Phạm Thị Bích C2 được Nguyễn Văn L nhờ đứng tên Giám đốc Công ty D5. Tuy nhiên, C2 không trực tiếp thực hiện việc trao đổi, thoả thuận, lập hồ sơ dự thầu mà chỉ ký hợp thức hồ sơ và các hợp đồng mua bán 08 gói thầu của Công ty D5 do Trần Hậu N1 lập sẵn. Đồng Thị Xuân T6 (vợ của Nguyễn Văn L), đã đưa cho L mượn giấy tờ cá nhân để T6 đứng tên Giám đốc Công ty T16 và không tham gia vào hoạt động của công ty. Các nhân viên làm thuê ở các vị trí như kế toán, thủ quỹ và các việc khác theo sự phân công của Nguyễn Văn L có tham gia vào việc hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục đấu thầu, đi nộp, chuyển tiền nhưng chỉ mang tính đơn lẻ, không biết việc gian lận đấu thầu; không biết việc chiếm đoạt và rửa tiền của L, Q; họ đều là người làm thuê, không được hưởng lợi, khai báo thành khẩn, tích cực hợp tác, cung cấp tài liệu cho Cơ quan điều tra.

Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 không xem xét trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng nêu trên.

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước gồm: Sở Y tế Thành phố H và UBND thành phố T đồng ý về mặt chủ trương mua sắm thiết bị y tế nhưng không cấp ngân sách mua sắm vật tư, Bệnh viện T tự thực hiện hoạt động đấu thầu, không phát hiện có hành vi thông đồng, bao che cho các sai phạm xảy ra tại Bệnh viện T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 563/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 353; điểm a khoản 3, Điều 324, điểm b, s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Nguyễn Minh Q 16 năm tù về tội “Tham ô tài sản”, 05 năm tù về tội “Rửa tiền”.

    Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 21 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2021.

    Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý, công việc liên quan đến đấu thầu trong thời gian 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  2. Căn cứ điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 353; điểm a khoản 3, Điều 324, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 54, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Nguyễn Văn L 12 năm tù về tội “Tham ô tài sản”, 03 năm tù về tội “Rửa tiền”.

    Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 15 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2021.

  3. Căn cứ Khoản 3, khoản 4 Điều 222, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Nguyễn Lan A 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2023.

    Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý, công việc liên quan đến đấu thầu trong thời gian 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  4. Căn cứ Khoản 3, khoản 4 Điều 222, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Nguyễn Thị N 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2023.

    Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý, công việc liên quan đến đấu thầu trong thời gian 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  5. Căn cứ Khoản 3, khoản 4 Điều 222, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Ngô Trương Ngọc B 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý, công việc liên quan đến đấu thầu trong thời gian 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  6. Căn cứ Khoản 3, khoản 4 Điều 222, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, n, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Đặng Thị H 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2023.

    Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý, công việc liên quan đến đấu thầu trong thời gian 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  7. Căn cứ Khoản 3, Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Trần Hậu N1 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2023.

  8. Căn cứ Khoản 3, Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Nguyễn Huy V 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2023

  9. Căn cứ điểm a, Khoản 3, Điều 324; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Nguyễn Trần Ngọc D 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Rửa tiền”. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân phường A1, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chuyển số tiền 14.000.000.000 đồng cho Bệnh viện thành phố T để khắc phục hậu quả của vụ án (đây là số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn L đã tự nguyện nộp vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra-Bộ C3). Về quan hệ giữa bị cáo Nguyễn Minh Q và bị cáo Nguyễn Văn L liên quan số tiền 14.000.000.000 đồng này là một quan hệ pháp luật khác sẽ được giải quyết khi các bên có yêu cầu.

(Số tiền 14.000.000.000 đồng đã được Cục Cảnh sát Điều tra tội phạm về Tham nhũng, kinh tế, chức vụ chuyển cho Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo ủy nhiệm chi ngày 23/11/2023 tại Kho bạc Nhà nước quận C, Thành phố Hà Nội).

Buộc Nguyễn Minh Q phải bồi thường lại cho Bệnh viện thành phố T số tiền 88.520.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc n lại số tiền 1.450.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo Nguyễn Lan A nộp lại số tiền là 784.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu số tiền 500.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Trần Ngọc D đã nộp sung vào ngân sách Nhà nước (theo biên lai thu số AA/2023/0000995 ngày 27/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Kháng cáo của các bị cáo:

Ngày 11/12/2023, bị cáo Nguyễn Minh Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị xem xét số tiền bồi thường.

Ngày 14/12/2023, bị cáo Nguyễn Lan A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh Q rút phần kháng cáo về trách nhiệm dân sự, giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và trình bày:

Xác nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” và tội “Rửa tiền” là đúng với hành vi phạm tội. Bị cáo có chỉ đạo thành lập 4 Công ty là Công ty N6, Công ty T14, Công ty T16, Công ty D5 được coi là Công ty “sân sau” với mục đích tham gia các gói thầu của Bệnh viện T. Tổng số tiền bị quy kết chiếm đoạt 102 tỷ là đúng. Bị cáo sử dụng số tiền này để mua bất động sản, tài sản khác, còn lại thì chỉ dùng cá nhân.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do: Bị cáo có nhiều công sức đóng góp để xây dựng Bệnh viên Thủ Đức như hôm nay, đã được nhà nước tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”, trong thời gian dịch bệnh Covid-19, bị cáo tích cực tham gia công tác chống dịch; tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã tự nguyện kê khai tài sản để kê biên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tác động gia đình nộp thêm 400 triệu đồng.

Bị cáo Nguyễn Lan A giữ nguyên kháng cáo và trình bày:

Xác nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” là đúng với hành vi phạm tội nhưng hình phạt 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là quá nghiêm khắc nên bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo và rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình; đồng thời đã nộp 390.000.000 đồng, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tác động gia đình nộp thêm 394.000.000 đồng để khắc phục toàn bộ tiền chiếm đoạt là 784.000.000 đồng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này.

Ngoài ra, bị cáo có mẹ được tặng Huân chương Lao động hạng Ba, có bà nội, bác ruột và cậu là liệt sĩ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử và các bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp lệ, đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Q:

Việc rút kháng cáo phần trách nhiệm dân sự là tự nguyện, đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đã rút.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” và tội “Rửa tiền” là có căn cứ. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và tuyên phạt bị cáo 16 năm tù về tội “Tham ô tài sản”, 05 năm tù về tội “Rửa tiền” là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tuy bị cáo có cung cấp tài liệu khắc phục thêm 400 triệu đồng nhưng cũng không là cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lan A:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” là có căn cứ. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và tuyêt phạt bị cáo 03 năm, 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tuy bị cáo có cung cấp tài liệu khắc phục thêm 394 triệu đồng nhưng cũng không là cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lan A, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh Q trình bày:

Bị cáo rút kháng cáo phần trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Q đã thừa nhận hành vi phạm tội nên Luật sư không có ý kiến về tội danh. Tuy nhiên, bị cáo được tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú” có giá trị tương đương với danh hiệu “Anh hùng lao động”; đồng thời, bị cáo có rất nhiều sáng kiến cải tiến trong công tác cũng được coi như lập công lớn theo Nghị quyết số 02/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá đúng mức. Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã đồng ý kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án, đồng thời giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp khắc phục thêm 400 triệu đồng.

Từ những tình tiết nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo thấp hơn hình phạt của bản án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Minh Q đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư và không trình bày thêm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lan A trình bày:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo bị quy kết số tiền 784 triệu đồng nhưng đã nộp 390 triệu đồng trong quá trình điều tra; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp thêm 394 triệu đồng là đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; đồng thời, bị cáo đã hợp tác với cơ quan điều tra nhanh chóng kết thúc vụ án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận. Ngoài ra, tại phiên tòa, bị cáo đã nộp thêm tình tiết mới là mẹ bị cáo được tặng Huân chương lao động hạng Ba, cậu và bà nội là liệt sĩ.

Việc Viện kiểm sát cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Lan A là chưa phù hợp. Từ những tình tiết trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm b, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Lan A đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư và không trình bày thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Lan A kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Bị cáo Nguyễn Minh Q rút kháng cáo phần trách nhiệm dân sự tại phiên tòa phúc thẩm. Việc rút kháng cáo là tự nguyện, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342 Bộ luật Hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đã rút tại phiên tòa.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Lan A xác định đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu và chỉ xin giảm hình phạt do hình phạt của bản án sơ thẩm quá nghiêm khắc.

[5] Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2020 Bệnh viện thành phố T đã tổ chức đấu thầu 31 gói thầu “Mua sắm trang thiết bị y tế, để phục vụ công tác khám chữa bệnh”, trong đó có 28 gói thầu đã hoàn thành việc thanh toán, với tổng giá trị 346.276.724.000 đồng. Mặc dù, biết rõ các Công ty tham gia đấu thầu đều là công ty “sân sau” của Nguyễn Minh Q, do Nguyễn Văn L quản lý nhưng các bị cáo là thành viên Tổ mua sắm của Bệnh viện T, gồm Ngô Trương Ngọc B, Đặng Thị H, Nguyễn Huy V, Trần Hậu N1 vẫn thông đồng với L, thực hiện các hành vi gian lận trong hoạt động đấu thầu, ấn định cho nhóm công ty do L quản lý trúng thầu. Các bị cáo, gồm: Nguyễn Thị N (Tổ trưởng Tổ soạn thảo hồ sơ mời thầu, Tổ trưởng Tổ mời thầu và Tổ trưởng Tổ chuyên gia xét thầu) và Nguyễn Lan A (Tổ trưởng Tổ thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu mua sắm máy móc, trang thiết bị y tế) đã không thực hiện đúng nhiệm vụ theo quy định mà theo chỉ đạo của Nguyễn Minh Q ký hợp thức hồ sơ, ấn định cho các công ty của L trúng thầu. Hành vi của các bị cáo đã tạo điều kiện cho các công ty của Q và L trúng thầu, chiếm đoạt tiền của Bệnh viện T, là tài sản của Nhà nước.

Để che giấu số tiền đã chiếm đoạt của Bệnh viện T, Nguyễn Minh Q đã dùng nhiều thủ đoạn như: Yêu cầu Nguyễn Văn L chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng đứng tên L nhưng do Q sử dụng; chuyển tiền vào các tài khoản cá nhân của Nguyễn Trần Ngọc D là vợ Q và tài khoản của Công ty N6, Công ty T14 để mua tài sản; rút tiền mặt đưa trực tiếp cho vợ chồng Q sử dụng.

Trong vụ án này, có nhiều bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội với vai trò, mức độ như sau:

Nguyễn Minh Q là giám đốc Bệnh viện T, có trách nhiệm quản lý tài sản Bệnh viện, nhưng đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao, sử dụng các Công ty “sân sau” để ký hợp đồng khống mua bán lòng vòng nâng giá các máy móc, thiết bị y tế, sau đó lập hồ sơ, tham gia đấu thầu vào Bệnh viện T. Đồng thời, bị cáo còn chỉ đạo các nhân viên dưới quyền thông đồng với Nguyễn Văn L lập, hoàn thiện hồ sơ, ký hợp thức các hồ sơ thầu để ấn định cho các công ty “sân sau” của Q trúng 27 gói thầu cung cấp máy móc, thiết bị y tế và được Bệnh viện thanh toán theo giá đã nâng khống để chiếm đoạt tiền của Nhà nước. Tổng số tiền mà Q chiếm đoạt của Bệnh viện T là 102,52 tỷ đồng. Để che giấu nguồn tiền đã chiếm đoạt, bị cáo còn cùng vợ là Nguyễn Trần Ngọc D đã chỉ đạo L rút tiền mặt, chuyển khoản vào tài khoản của vợ chồng Q hoặc chuyển khoản, sử dụng theo chỉ định của vợ chồng Q.

Nguyễn Văn L là Giám đốc Công ty T14, được Nguyễn Minh Q bố trí công tác tại Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện T từ năm 2016 đến 2020. Mặc dù, là nhân viên Bệnh viện, nhưng thực hiện theo chỉ đạo của Q, L đã thành lập và sử dụng nhóm 04 công ty tham gia đấu thầu 27 gói thầu mua sắm trang thiết bị y tế tại Bệnh viện T; chỉ đạo nhân viên làm hồ sơ dự thầu cho 03 nhà thầu; tự ký giả chữ ký của nhà thầu; lập hồ sơ năng lực, kinh nghiệm của các công ty không đúng sự thật. Hành vi mà bị cáo thực hiện là thông thầu và gian lận, bị cấm trong hoạt động đấu thầu nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, giúp sức cho Q chiếm đoạt tiền. Bị cáo đã trực tiếp hoặc chỉ đạo nhân viên thực hiện các hành vi rút, chuyển tiền để giúp Q che giấu nguồn tiền đã chiếm đoạt.

Nguyễn Trần Ngọc D (là vợ của Nguyễn Minh Q), đã cùng Q chỉ đạo Nguyễn Văn L thực hiện các giao dịch rút tiền mặt, chuyển khoản vào tài khoản của Q và D hoặc chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản của các công ty mà vợ chồng Q mua nhà đất nhằm mục đích che giấu nguồn tiền đã chiếm đoạt của Bệnh viện T. Tổng số tiền L chuyển tiền mặt và chuyển vào tài khoản của D là 67,9 tỷ đồng (trong đó Q, D đã sử dụng 51,7 tỷ đồng để mua bất động sản).

Ngô Trương Ngọc B là Trưởng phòng Vật tư, thành viên của Tổ soạn thảo hồ sơ mời thầu, Tổ mở thầu, Tổ chuyên gia xét thầu. Theo chỉ đạo của Nguyễn Minh Q, bị cáo là người đã liên hệ với Nguyễn Văn L lấy các báo giá, cấu hình kỹ thuật trang thiết bị y tế của các công ty của L, phối hợp với Đặng Thị H lập Tờ trình dự trù, dự toán mua sắm trang thiết bị y tế xin phê duyệt của Sở Y tế Thành phố H và UBND quận T. B đã chỉ đạo Nguyễn Huy V (nhân viên Phòng Vật tư trang thiết bị y tế) lập các Tờ trình phê duyệt, các báo cáo để chuyển cho thành viên của các tổ được Q phân công, ký hợp thức để hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ ấn định cho các công ty của L trúng thầu các gói thầu mua sắm của Bệnh viện T. B đã ký báo cáo của tổ chuyên gia xét thầu đối với 24/27 gói thầu, gây thiệt hại tổng số tiền 34.926.826.547 đồng.

Nguyễn Huy V là nhân viên Phòng Vật tư, thành viên của Tổ mời thầu, Tổ chuyên gia xét thầu. Thực hiện theo chỉ đạo của Ngô Trương Ngọc B, bị cáo là người soạn thảo lập các Tờ trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật, Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất về tài chính, Báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu, Báo cáo thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất về kỹ thuật, Báo cáo thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất về tài chính, Hợp đồng tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu...chuyển cho thành viên của các tổ đã được Nguyễn Minh Q phân công để ký hợp thức các tài liệu ấn định cho nhóm các công ty của L trúng thầu. V đã ký báo cáo của tổ chuyên gia xét thầu đối với 24 gói thầu gây thiệt hại tổng số tiền 34.926.826.547 đồng.

Đặng Thị H là trưởng Đơn vị đầu tư quản lý dự án Bệnh viện T, thành viên của Tổ mở thầu, Tổ chuyên gia xét thầu. Theo chỉ đạo của Nguyễn Minh Q, bị cáo đã thực hiện các hành vi: Liên hệ với các khoa, phòng tiếp nhận đề xuất mua trang thiết bị y tế để lập danh mục dự trù mua sắm của Bệnh viện, liên hệ với Nguyễn Văn L lấy báo giá, cấu hình kỹ thuật xây dựng dự trù mua sắm và dự toán mua sắm xin phê duyệt của Sở Y tế Thành phố H và UBND quận T; trực tiếp liên hệ với V4 Chi nhánh T18 để làm thủ tục vay vốn cho Bệnh viện T thanh toán tiền mua trang thiết bị y tế; Ký hợp thức tờ trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật...hợp thức các tài liệu để hoàn tất hồ sơ thầu, ấn định cho nhóm các công ty do L quản lý trúng thầu đối với các gói thầu tại Bệnh viện T; bị cáo còn ký hợp thức hồ sơ với vai trò thành viên tổ chuyên gia xét thầu đối với 24 gói thầu, gây thiệt hại tổng số tiền 34.926.826.547 đồng.

Nguyễn Thị N là Phó giám đốc Bệnh viện T, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học công nghệ Bệnh viện; Tổ trưởng Tổ soạn thảo Hồ sơ mời thầu, Tổ mời thầu, Tổ chuyên gia xét thầu. Bị cáo biết các công ty của Nguyễn Văn L tham gia đấu thầu các gói mua sắm trang thiết bị y tế của Bệnh viện T có quan hệ thân thiết với Nguyễn Minh Q nhưng theo chỉ đạo của Q, bị cáo mặc dù không thực hiện nhưng vẫn ký hợp thức các Tờ trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật, Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất tài chính; hợp thức các thủ tục liên quan đến đấu thầu, mua sắm trang thiết bị y tế để ấn định cho nhóm các công ty của L trúng thầu. Bị cáo ký hợp thức hồ sơ với vai trò tổ trưởng tổ chuyên gia xét thầu đối với 16 gói thầu, gây thiệt hại tổng số tiền 13.681.696.547 đồng.

Nguyễn Lan A là Phó giám đốc Bệnh viện T, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học công nghệ Bệnh viện; Tổ trưởng Tổ thẩm định đấu thầu. Mặc dù, không thực hiện nhưng bị cáo đã ký hợp thức các Báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu, Báo cáo thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất về tài chính, Báo cáo thẩm định kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật, Hợp đồng mua bán, các biên bản nghiệm thu... hợp thức các thủ tục liên quan đến đấu thầu, mua sắm trang thiết bị y tế để ấn định tạo điều kiện cho nhóm các công ty của Nguyễn Văn L trúng thầu. Nguyễn Lan A ký hợp thức hồ sơ với vai trò tổ trưởng tổ thẩm định đối với 13 gói thầu, gây thiệt hại tổng số tiền 25.961.673.809 đồng.

Trần Hậu Nghĩa là giám đốc Công ty T15. Bị cáo cũng như Công ty T15 không tham gia đấu thầu tại Bệnh viện T nhưng theo chỉ đạo của Nguyễn Văn L, N1 đã sử dụng pháp nhân của 03 Công ty, gồm: Công ty N6, Công ty T14 và Công ty T16, để làm 03 hồ sơ dự thầu, điều chỉnh các thông tin theo chỉ đạo của L và kiểm duyệt nội dung trước khi in ấn, nộp cho Bệnh viện T. Bị cáo biết rõ việc L chỉ đạo đưa thông tin gian dối về tư cách pháp nhân, năng lực, kinh nghiệm của 03 Công ty trên nhằm đáp ứng điều kiện hồ sơ mời thầu nhưng vẫn thực hiện... Theo chỉ đạo của L, N1 đã liên hệ và chi bồi dưỡng 10.000.000 đồng mỗi tháng cho Nguyễn Lan A, số tiền 390.000.000 đồng và Nguyễn Thị N 340.000.000 đồng và chi 5% trên doanh thu số vật tư tiêu hao của Khoa Răng hàm mặt, số tiền 280.000.000 đồng, chi tiệc tất niên 65.000.000 đồng, mua ba lô 50.000.000 đồng (người nhận là Nguyễn Lan A) và K4 Thận nhân tạo, số tiền 1 tỷ đồng, 110 triệu đồng tiền tất niên và sinh nhật khoa; chi cho K4 Răng hàm mặt thông qua bị cáo Lan A 280 triệu đồng, chi tiệc tất niên 65 triệu đồng, mua ba lô 50 triệu đồng). Như vậy, hành vi của N1 đã giúp sức cho Nguyễn Văn L và Nguyễn Minh Q chiếm đoạt tài sản nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả thiệt hại được xác định là 81.288.123.238 đồng.

[6] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Văn L về tội “Tham ô tài sản” và “Rửa tiền”, quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 353 và điểm a khoản 3 Điều 324 Bộ luật Hình sự; xét xử các bị cáo Ngô Trương Ngọc B, Đặng Thị H, Nguyễn Huy V, Nguyễn Thị N, Nguyễn Lan A, Trần Hậu N1 về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, theo khoản 3 Điều 222 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Trần Ngọc D về tội “Rửa tiền”, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 324 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

[7] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Q, thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b, s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo 16 năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 05 năm tù về tội “Rửa tiền” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp biên lai thu số 0031867 ngày 16/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện bị cáo đã nộp 400.000.000 đồng, được xem là tình tiết mới quy định tại điểm b khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khi lượng hình; đồng thời, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra thiệt hại rất lớn đến tài sản Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng và lâu dài đến hoạt động của Bệnh viện T nên số tiền bị cáo khắc phục thêm là quá nhỏ so với tổng số tiền bị cáo phải bồi thường 88.520.000.000 đồng nên hình phạt 16 năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 05 năm tù về tội “Rửa tiền” đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[8] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lan A, thấy rằng:

[8.1] Quá trình điều tra, bị cáo đã nộp 390.000.000 đồng theo Ủy nhiệm chi của Cục Cảnh sát Điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, chức vụ chuyển cho Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/11/2023 tại Kho bạc Nhà nước quận C, Thành phố Hà Nội.

[8.2] Tại phiên tòa, bị cáo cung cấp biên lai thu số 0032898 ngày 22/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện bị cáo đã nộp 394.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt 784.000.000 đồng. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm b khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8.3] Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là chưa đầy đủ. Vì vậy, cần áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo.

[9] Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần ý kiến của Viện kiểm sát; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Lan A; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Q; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Lan A.

[10] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Lan A không phải chịu; bị cáo Nguyễn Minh Q phải chịu 200.000 đồng.

[11] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 342, điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 1, khoản 3 Điều 357, Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo bị cáo Nguyễn Minh Q đã rút tại phiên tòa về phần trách nhiệm dân sự.

  2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lan A.

  3. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Q.

  4. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 563/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Lan A.

  5. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Rửa tiền”.

  6. Căn cứ điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 353; điểm a khoản 3, Điều 324, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    1. Xử phạt Nguyễn Minh Q 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Rửa tiền”

    2. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Minh Q phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 21 (Hai mươi mốt) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2021.

    3. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý, công việc liên quan đến đấu thầu trong thời gian 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    4. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh Q để bảo đảm thi hành án.

  7. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    1. Xử phạt Nguyễn Lan A 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2023.

    2. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý, công việc liên quan đến đấu thầu trong thời gian 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Lan A để bảo đảm thi hành án.

  8. Về xử lý vật chứng: Theo Bản án sơ thẩm 563/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

  9. Về án phí:

    1. Án phí sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Lan A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

    2. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Lan A không phải chịu. Bị cáo Nguyễn Minh Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  10. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh (3 bản);
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam công an Thành phố Hồ Chí Minh (3 bản)
  • - Lưu: VP (3), Hồ sơ (2), (LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 357/2024/HS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản, rửa tiền, vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 357/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản, Rửa tiền, Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (Vụ án Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger