|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 357/2024/ HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 5 năm 2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH. THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Ngọc Toàn
2. Bà Dương Thị Diễm
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương -Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm D, sinh năm 1970; ĐKHKTT và nơi ở: F18 +20 C13 phường K, quận Đ, Hà Nội. (Ông D có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1980; ĐKHKTT: 80 Quán T, phường Q, quận B, Hà Nội; Nơi ở: Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Bà Q vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Phạm D trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm D và bà Nguyễn Thanh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức cưới và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 07/08/2012, số 75, quyển số 01/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại địa chỉ F18-20 C phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội (Đây là nhà của bố mẹ ông). Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng lối sống nên khoảng năm 2022 thì bà Q đã về nhà bố mẹ ở H Quán T, quận B, thành phố Hà Nội để ở. Trong quá trình ở tại nhà bố mẹ, bà Q đã có hành vi vi phạm pháp luật về hình sự và đã bị Công an quận Đ truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện nay bà Q đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H và Tòa án chưa xét xử nên ông D cũng không biết bao giờ bà Q sẽ được ra. Vợ chồng ông sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay để tránh ảnh hưởng đến con cái và cuộc sống của mình, ông D đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Q.
- - Về con chung: Quá trình vợ chồng chung sống ông Phạm D và bà Nguyễn Thanh Q có 02 (hai) con chung là Phạm Minh V, sinh ngày 13/11/2012 và Phạm Minh A, sinh ngày 12/7/2017. Khi ly hôn vì bà Q đang bị tạm giam nên ông D có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu bà Q phải đóng góp tiền nuôi con chung.
- - Về tài sản và nhà ở chung: Ông D đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản vay nợ: Ông D xác nhận vợ chồng không cùng vay nợ ai và không cùng cho ai vay nợ nên không cầu Tòa án giải quyết.
- -Về án phí ly hôn: Ông D tự nguyện chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày.
* Bị đơn: Tại biên bản ghi lời khai bà Nguyễn Thanh Q có lời khai:
Trước khi bị bắt tôi sinh sống tại địa chỉ H Quán T, quận B, thành phố Hà Nội (theo đúng HKTT của tôi) vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tiếp tục giải quyết vụ án.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Q xác nhận bà và ông D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức cưới và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận Đ, Hà Nội vào ngày 07/08/2012, số 75, quyển số 01/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại địa chỉ F18-20 C phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội (Đây là nhà của bố mẹ ông D). Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng lối sống nên khoảng năm 2022 thì bà Q đã về nhà bố mẹ ở H Quán T, quận B, thành phố Hà Nội để ở và vợ chồng bà đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Khoảng đầu năm 2004 do có hành vi vi phạm pháp luật về hình sự nên bà Q đã bị Công an quận Đ truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện nay bà Q đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Nay để tránh ảnh hưởng đến con cái và cuộc sống của mình, ông D đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Q.
- - Về con chung: Bà Q xác nhận quá trình vợ chồng chung sống vợ chồng bà có 02 (hai) con chung là Phạm Minh V, sinh ngày 13/11/2012 và Phạm Minh A, sinh ngày 12/7/2017. Khi ly hôn vì bà Q đang bị tạm giam nên bà đồng ý để ông D nuôi cả 2 con và xin tạm hoãn đóng góp tiền nuôi con chung.
- Về tài sản và nhà ở chung: Không có gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản vay nợ: Không có, không cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bà Q đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà vì bà đang bị tạm giam.
* Tại biên bản xác minh ngày 17/5/2024, tổ trưởng tổ dân phố số A phường Q, quận B là ông Nguyễn Phú T cho biết: Ông D và bà Q sau khi kết hôn không sinh sống tại 80 Quán Thánh. Chỉ khoảng 2 năm gần đây thì thấy bà Q quay về sống tại 80 Quán Thánh mà không có ông D về cùng. Về mâu thuẫn giữa ông D và bà Q như nào thì tổ dân phố không nắm được. Nay ông D làm đơn xin ly hôn bà Q, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại biên bản ghi lời khai đề ngày 17/5/2024, ông Nguyễn Thanh L trình bày: Ông là bố đẻ của chị Nguyễn Thanh Q. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng anh D và chị Q thì ông chỉ nghe sơ qua, cụ thể như nào ông không rõ. Nay chị Q bị tạm giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, anh D làm đơn xin ly hôn với chị Q, ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân quận Ba Đình là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích vụ án, đại diện Viện kiểm sát căn cứ quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm D đối với bà Nguyễn Thanh Q
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Minh V, sinh ngày 13/11/2012 và Phạm Minh A, sinh ngày 12/7/2017 cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung của bà Q cho đến khi ông D có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản và nhà ở chung: Ông D và bà Q không có yêu cầu giải quyết, Tòa án không xem xét.
- Về các khoản vay nợ: Ông D và bà Q không có, không cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng dân sự: Bị đơn bà Nguyễn Thanh Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại H Quán T, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội, trước khi bị tạm giam bà Q vẫn sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý, giải quyết, xét xử là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của đương sự, kết quả xác minh tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Phạm D và bà Nguyễn Thanh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 07/08/2012, số 75, quyển số 01/2012. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 và khoản 1, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Quá trình chung sống ông D và bà Q có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và lối sống. Ông D và bà Q đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hơn nữa hiện nay bà Q đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H trong vụ án hình sự do Công an quận Đ đang điều tra, truy tố. Xét thấy hôn nhân của ông D và bà Q đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, với điều kiện, hoàn cảnh như hiện nay thì ông D, bà Q không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Nhận định của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử. Do vậy, căn cứ Điều 51; khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm D là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Xác nhận ông D và bà Q có hai con chung là là Phạm Minh V, sinh ngày 13/11/2012 và Phạm Minh A, sinh ngày 12/7/2017. Khi ly hôn ông D có nguyện vọng được nuôi cả 2 con, bà Q đồng ý để ông D nuôi con vì hiện bà đang bị tạm giam không có khả năng, điều kiện nuôi con. Do vậy căn cứ khoản 2, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao 02 con chung cho ông D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Q là có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Về tài sản và nhà ở chung: Ông D, bà Q đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo:
Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm của đại diện viện Kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 40; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử :
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm D. Ông Phạm D được ly hôn bà Nguyễn Thanh Q.
- Về con chung: Ông Phạm D và bà Nguyễn Thanh Q có 02 con chung là Phạm Minh V, sinh ngày 13/11/2012 và Phạm Minh A, sinh ngày 12/7/2017. Giao con chung là Phạm Minh V và Phạm Minh A cho ông Phạm D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung của bà Nguyễn Thanh Q cho đến khi ông Phạm D có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Bà Nguyễn Thanh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản và nhà ở chung: Ông D, bà Q tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản vay nợ: Không có, không cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Ông Phạm D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông D đã nộp án phí theo biên lai thu tiền số 0005072 ngày 25/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thúy Hạnh |
Bản án số 357/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 357/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa ông Phạm D và bà Nguyễn Thanh Q
