|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 357/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 12 - 2023
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023 và ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 285/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T sinh năm 1992. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Ngõ L, 13055 B, E, Cộng hòa liên bang Đ. Đề nghị vắng mặt;
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh ngày 08/3/1993; Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1965 và bà Phan Thị H, sinh năm 1964 (bố mẹ của chị Phạm Thị T). Địa chỉ cư trú: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn ly hôn đề ngày 17 tháng 7 năm 2023 và lời khai chị Phạm Thị T trình bày: Chị T và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An ngày 16/12/2015. Sau khi kết hôn, anh C thường xuyên xuất cảnh sang nước ngoài làm ăn đến tháng 9 năm 2017 anh C về nước và rời khỏi nơi cư trú đi làm ăn xa không có nơi cư trú cụ thể, vợ chồng ít liên lạc với nhau. Từ tháng 5 năm 2022 trở lại nay, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống, chị T đem con về bên ngoại ở, tháng 3 năm 2023 chị T xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đ làm việc, hai người cắt đứt mọi liên lạc không quan tâm đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Vợ chồng có một chung là cháu Nguyễn Quang A, sinh ngày 24/01/2017, hiện đang do vợ chồng ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H bố mẹ của chị T và là ông bà ngoại của cháu quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.
Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Nguyễn Văn C: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn C thông qua bà Đinh Thị M là mẹ của anh C. Theo bà Đinh Thị M cung cấp thông tin thì anh Nguyễn Văn C, hiện đang cư trú tại Vương quốc A và thỉnh thoảng liên lạc với bà M và người thân trong gia đình nên anh C đã biết việc chị T yêu cầu ly hôn, nuôi con chưa thành niên. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng hiện anh Nguyễn Văn C vắng mặt và cũng không có ý kiến gì.
Vợ chồng ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H trình bày: Vợ chồng ông T1, bà H là người được vợ chồng chị Phạm Thị T nhờ trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Quang A con chung của vợ chồng trong thời gian từ khi cả hai người đi nước ngoài đến nay. Nay vợ chồng ly hôn, ông T1, bà H không yêu cầu vợ chồng chị T, anh C phải thanh toán các khoản chi phí mà ông, bà đã chăm sóc cháu và đề nghị Tòa án giao cháu cho chị T nuôi dưỡng. Nếu Tòa án giao cháu Nguyễn Quang A cho chị T nuôi dưỡng; vợ chồng ông T1, bà H cam kết tiếp tục quản lý, chăm sóc cháu chu đáo trong thời gian chị Phạm Thị T chưa về nước. Ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T cho ly hôn giữa chị T và anh C; giao con chưa thành niên cho chị T nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông T1, bà H cam kết quản lý các cháu trong thời gian chị T chưa về nước; tài sản chung chưa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại Công văn số 28542/QLXNC-P3 ngày 30/10/2023 của Cục X – Bộ C1 xác định thì anh Nguyễn Văn C đã xuất cảnh 134 lần; lần nhập cảnh cuối là ngày 13/12/2017, qua xác minh tại địa phương xác định anh C có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng rời khỏi nơi cư trú không đăng ký tạm vắng, tạm trú. Toà án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn C thông qua bà Đinh Thị M là mẹ của anh C. Theo bà Đinh Thị M cung cấp thông tin thì anh Nguyễn Văn C, hiện đang đi làm ăn xa, ít khi về nhà, anh Nguyễn Văn C đã biết việc chị T yêu cầu ly hôn, nuôi con chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng hiện anh Nguyễn Văn C vắng mặt và cũng không có ý kiến gì. Do đó, việc anh Nguyễn Văn C vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo.
Chị Phạm Thị T hiện đang ở nước ngoài, sau khi gửi đơn khởi kiện và trình bày quan điểm, nhưng vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia hòa giải, giải quyết vụ án được. Chị Phạm Thị T ủy quyền cho ông Nguyễn Xuân H1 giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đề nghị Toà án giải quyết và xử vắng mặt (Có xác nhận của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ).
Đối với ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H, người được chị T gửi, nhờ trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Quang A (con chung của vợ chồng) trong thời gian chị T đang ở nước ngoài nhưng ông T1, bà H không có yêu cầu gì và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 207; khoản 1, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không thể hoà giải được và Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, mặc dù chị Phạm Thị T vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn C và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung chưa thành niên. Xét thấy, chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, anh C thường xuyên xuất cảnh sang nước ngoài làm ăn đến tháng 9 năm 2017 anh C về nước và rời khỏi nơi cư trú đi làm ăn xa không có nơi cư trú cụ thể, vợ chồng ít liên lạc với nhau. Từ tháng 5 năm 2022 trở lại nay, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống, chị T đem con về bên ngoại ở, tháng 3 năm 2023 chị T xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đ làm việc, hai người cắt đứt mọi liên lạc không quan tâm đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay, chị T nhận thấy, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cho ly hôn.
[3] Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn C có một con chung cháu Nguyễn Quang A, sinh ngày 24/01/2017, hiện đang do vợ chồng ông Phạm Ngọc T1, bà Phan Thị H bố mẹ của chị T và là ông bà ngoại của cháu quản lý, chăm sóc. Anh C hiện không xác định được nơi cư trú, làm việc, mặc dù, chị Phạm Thị T hiện đang ở nước ngoài nhưng có nơi cư trú ổn định và từ trước đến nay cháu Nguyễn Quang A được chị T gửi nhờ vợ chồng ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa, vợ chồng ông T1, bà H cam kết tiếp tục quản lý chăm sóc cháu chu đáo cho đến khi chị T về nước, do đó cần giao cháu cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng, hiện chị T chưa yêu cầu và anh C cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa xem xét. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn C có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Hiện tại chị T không yêu cầu và anh Nguyễn Văn C cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Về việc quản lý, chăm sóc con chung: Vợ chồng ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H là người trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Quang A trong thời gian từ khi chị T, anh C ở nước ngoài đến nay. Tuy nhiên, ông T1, bà H không yêu cầu vợ chồng chị T, anh C phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc các cháu và tự nguyện cam kết chăm sóc quản lý, nuôi dưỡng cháu A trong thời gian chị T chưa về nước nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 207; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn C.
- Về nuôi con chung:
- Giao con chung cháu Nguyễn Quang A, sinh ngày 24/01/2017 cho chị Phạm Thị T nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị T chưa yêu cầu và anh Nguyễn Văn C chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.
Chấp nhận sự tự nguyện của ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Quang A trong thời gian chị Phạm Thị T chưa về nước.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn C có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004463 ngày 12/10/2023 (ông Nguyễn Xuân H1 nộp thay nộp thay).
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Phạm Thị T đang ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Văn C vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản sao bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ông Phạm Ngọc T1 và bà Phan Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Phạm Văn Phấn |
Bản án số 357/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 357/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
