|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 357/2023/DS-PT Ngày 14/8/2023 "V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Chế Linh
Các Thẩm phán:Bà Phan Thị Tuyết Mai
Ông Võ Bảo Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DSST ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 355/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1935; cư trú tại: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Đình H1, sinh năm 1973; cư trú tại: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 17/5/2021).
- Bị đơn:Ông Bồ Kim Y, sinh năm 1944; cư trú tại: số C N, khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Bồ Minh Q, sinh năm 1982; cư trú tại: số C N, khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 17/5/2021).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1970; cư trú tại: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo:Ông Lê Thanh H là nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn có người đại diện ủy quyền là ông Lê Đình H1 trình bày như sau:
Nguyên đơn là ông Lê Thanh H có thỏa thuận chuyển nhượng cho bị đơn ông Bồ Kim Y một phần đất qua đo đạc có diện tích 236,6m² ( ký hiệu 4181) thuộc thửa đất số 418, loại đất LUC do ông Lê Thanh H đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00402 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 17/11/2005, tọa lạc tại khu vực L, phường T, quận T, Tp.Cần Thơ với giá thỏa thuận là 50.000.000đồng, các bên có lập “Tờ hợp đồng mua bán đất” ngày 05/11/2009. Đất của nguồn gốc của ông H tạo lập trước năm 1990 với vợ là bà Nguyễn Ngọc T (chết năm 1985) và được các thành viên gia đình xác định thửa đất 418 là tài sản riêng của ông H ngày 30/9/2005 cho đến nay.
Quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất thì ông Y đã nhận đất sử dụng xây dựng nhà mồ và đã trả trước cho ông H số tiền 25.000.000 đồng còn lại 25.000.000 đồng, thỏa thuận khi tách giấy xong thì ông Y giao cho ông H đủ số tiền này. Thời điểm các bên thỏa thuận thì ông H có trách nhiệm làm thủ tục tách giấy đất nhưng không thực hiện được do không đủ điều kiện tách thửa và ông Y cho rằng có người quen làm được nên ông H giao bản chính giấy đất cho ông Y làm thủ tục nhưng đến nay vẫn không làm được nên trả lại giấy đất cho ông H nhưng không trả số tiền 25.000.000 đồng cho ông H đã ảnh hưởng quyền lợi của ông H nên các bên phát sinh tranh chấp được chính quyền địa phương hòa giải. Tại Biên bản hòa giải ngày 13/4/2020 của Ủy ban nhân dân phường T thì ông H thừa nhận có bán đất cho bị đơn Y, hiện đã xây dựng nhà nhà mồ kiên cố và hàng rào xung quanh đất nên không có ý kiến việc thanh toán giá trị đất theo hợp đồng.
Nay, ông H yêu cầu Tòa án xem xét hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên thể hiện tại “Tờ hợp đồng mua bán đất” lập ngày 05/11/2009 giữa ông Y với ông H và yêu cầu bị đơn tháo dỡ tài sản trả lại đất cho nguyên đơn, nguyên đơn đồng ý trả lại số tiền đã nhận là 25.000.000đồng cho bị đơn. Trường hợp thỏa thuận để bị đơn tiếp tục sử dụng đất thì bị đơn phải trả cho ông H số tiền 700.000.000đồng thì nguyên đơn đồng ý tách giấy đất.
*Bị đơn có người đại diện ủy quyền là ông Bồ Minh Q trình bày:
Bị đơn là ông Bồ Kim Y thống nhất với lời khai của nguyên đơn về việc các bên có thỏa thuận ông H chuyển nhượng cho ông Y phần đất qua đo đạc có diện tích 236,6m² ( ký hiệu 4181) thuộc thửa đất số 418, loại đất LUC do ông Lê Thanh H đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Giá thỏa thuận mua bán phần đất là 50.000.000đồng, các bên có lập “Tờ hợp đồng mua bán đất” ngày 05/11/2009.
Sau khi nhận chuyển nhượng ông Y đã trả đủ tiền cho ông H và đã nhận đất sử dụng và xây nhà mồ và hàng rào xung quanh khu đất này. Tuy nhiên, do việc tách thửa không thực hiện được nên không thể sang tên cho ông Y nên các bên phát sinh tranh chấp đến nay. Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện do bà Võ Thị Đ quản lý và bà Đ là người mua phần đất liền kề với phần đất ông Y mua của ông H tại thửa đất 418 chứ ông H không quản lý.
Nay, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý và yêu cầu nguyên đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất để bị đơn được quyền sử dụng và cấp giấy đất cho bị đơn theo quy định. Hiện bị đơn ông Y đang điều trị bệnh đột quỵ tại Bệnh viện Đ1 nên không có đơn yêu cầu phản tố gửi cho Toà án nên yêu cầu Toà án xem xét giải quyết theo quy định.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Đ trình bày:
Bà không có quan hệ thân thích với nguyên đơn ông Lê Thanh H, bị đơn ông Bồ Kim Y. Hiện bà đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00402 do ông Lê Thanh H đứng tên chủ sử dụng được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 17/11/2005. Lý do trước đây vào năm 2006 bà có mua phần đất thuộc thửa đất số 418 của ông H và ông H giao giấy cho bà để làm thủ tục sang tên cho bà phần đất bà đã mua nhưng không thực hiện được cho đến nay.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn thì bà không có ý kiến đối với việc tranh chấp giữa nguyên đơn, bị đơn. Đối với việc mua bán đất giữa bà với ông H thì bà sẽ khởi kiện thành vụ án khác khi có yêu cầu. Ngoài ra, do bận công việc làm ăn nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các lần hòa giải, đối chất và xét xử tại Tòa án các cấp.
Quá trình thu thập chứng cứ, theo yêu cầu của nguyên đơn thì Tòa án tiến hành đo đạc và thẩm định xác định phần đất có tổng diện tích 236,6m² ( ký hiệu 4181) thuộc thửa đất số 418, loại đất LUC thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 42/TTKTTNMT, ngày 08/4/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thực hiện.
Các tài sản trên đất tranh chấp của bị đơn ông Bồ Kim Y đang quản lý sử dụng gồm: Căn nhà mồ có kết cấu: Khung bê tông cốt thép, mái gói, nền gạch men, trần bê tông, lan can, trụ bê tông, diện tích 7,6m x 6,6m = 50,16m² và 01 ngôi mộ. Nền đất xung quanh khu mộ lót gạch vĩa hè, diện tích: 99,3m2. Hàng rào có kết cấu: Tường 20 xây tô 2 mặt, trụ bê tông, ghép song sắt, diện tích: 27,9m x 1,9m = 53,01m² và 02 cây Khế, 01 cây Cau.
-Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DSST ngày 25 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh H.
- Công nhận cho bị đơn Bồ Kim Y được quyền sử dụng phần đất có diện tích 236,6m² ( ký hiệu 4181) thuộc thửa đất số 418, loại đất LUC do ông Lê Thanh H đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00402 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 17/11/2005, tọa lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, hiện phần đất này do ông Y quản lý sử dụng.
Vị trí, kích thước các cạnh phần đất nêu trên xác định theo Bản trích đo địa chính số 42/TTKTTNMT của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C, lập ngày 08/4/2022 (Đính kèm).
- Buộc bị đơn ông Bồ Kim Y phải có trách nhiệm thanh toán giá trị quyền sử dụng đất nêu trên cho nguyên đơn ông Lê Thanh H với số tiền 39.117.500 đồng. Về thời gian và cách thức thanh toán số tiền trên được giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự theo thẩm quyền.
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm trả số tiền trên thì bị đơn còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Đ phải có trách nhiệm giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00402 do ông Lê Thanh H đứng tên cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy đất, hiện giấy đất do bà Đ quản lý. Trường hợp bà Võ Thị Đ không tự nguyện giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lê Thanh H đứng tên để điều chỉnh diện tích và cấp lại cho bị đơn là ông Bồ Kim Y phần đất ông được quyền sử dụng theo quy định pháp luật.
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn chỉnh thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nguyên đơn ông Y phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất được quyền sử dụng theo quy định.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản số tiền 6.000.000 đồng. Nguyên đơn, bị đơn mỗi người phải chịu số tiền 3.000.000 đồng. Nguyên đơn ông H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 6.000.000 đồng mà ông đã nộp tạm ứng tại Tòa án và bị đơn ông Y phải có trách nhiệm nộp số tiền 3.000.000 đồng để trả cho nguyên đơn ông H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Lê Thanh H và bị đơn ông Bồ Kim Y được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 08/5/2023, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết hủy 50% giao dịch giữa hai bên do có vi phạm pháp luật, buộc bị đơn giao trả lại 118m² đất trống chưa sử dụng theo kết quả đo đạc thẩm định của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được việc giải quyết tranh chấp. Cụ thể, các bên thống nhất các nội dung án sơ thẩm đã tuyên, chỉ thỏa thuận lại số tiền mà ông Bồ Kim Y hoàn lại cho ông Lê Thanh H là 70 triệu đồng. Các bên chịu án phí theo quy định của pháp luật. Phần liên quan đến bà Võ Thị Đ, do bà Đ không kháng cáo nên án sơ thẩm có hiệu lực.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua phân tích các tình tiết, sự kiện của vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ cho rằng việc các bên thỏa thuận tại phiên tòa là tự nguyện, đúng pháp luật nên đề nghị căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự, công nhận sự thỏa thuận của các bên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy, các bên tranh chấp quyền sử dụng đất. Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo các quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự quy định, tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trong trường hợp này, các đương sự đã thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ vụ án, bao gồm cả nghĩa vụ chịu án phí. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Công nhận cho bị đơn là ông Bồ Kim Y được quyền sử dụng phần đất có diện tích 236,6m² ( ký hiệu 4181) thuộc thửa đất số 418, loại đất LUC do ông Lê Thanh H đứng tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00402 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp ngày 17/11/2005, tọa lạc tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, hiện phần đất này do ông Y quản lý sử dụng.
Vị trí, kích thước các cạnh phần đất nêu trên xác định theo Bản trích đo địa chính số 42/TTKTTNMT của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C, lập ngày 08/4/2022 (Đính kèm).
- Ông Bồ Kim Y có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Thanh H số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm trả số tiền trên thì bị đơn còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Võ Thị Đ phải có trách nhiệm giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00402 do ông Lê Thanh H đứng tên cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy đất, hiện giấy đất do bà Đ quản lý. Trường hợp bà Võ Thị Đ không tự nguyện giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lê Thanh H đứng tên để điều chỉnh diện tích và cấp lại cho bị đơn là ông Bồ Kim Y phần đất ông được quyền sử dụng theo quy định pháp luật.
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn chỉnh thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông Y có nghĩa vụ tài chính đối với phần đất được quyền sử dụng theo quy định.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn có nghĩa vụ hoàn lại cho nguyên đơn số tiền 3.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Nguyên đơn và bị đơn được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chế Linh |
Bản án số 357/2023/DS-PT ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 357/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chấp HĐCNQSDĐ với BĐ
