|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 356/2023/HS-ST |
Ngày 30 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành
2. Ông Lê Văn Ninh.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Mạnh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 326/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Ngọc C, sinh ngày 09/02/1980 tại Thái Nguyên.
Tên gọi khác: không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề Nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thế Đ (đã chết); Con bà: Bùi Thị T; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: Không; Vợ: Hà Thị Thu N; Con: có 02 con; Tiền án, Tiền sự: không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào). Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Ông Đào Văn P, sinh năm 1962 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1981 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1985 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Chị Hà Thị Thu N, sinh năm 1979 – Có mặt.
Địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/4/2023, ông Đào Văn P (sinh năm 1962, HKTT: Tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) đến số nhà E đường L, thuộc địa phận tổ H, phường T, thành phố T để nộp tiền điện sinh hoạt. Do chờ nhân viên thu tiền điện là chị Nguyễn Thị Thanh H kiểm tra hóa đơn, chứng từ nên ông P đi ra ngoài sân trước cửa quầy thu tiền điện đứng chờ, trước đó ông P đã để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng ở bàn thu tiền điện. Khi ông P vừa rời khỏi quầy thì Bùi Ngọc C đến nộp tiền điện. Sau khi nộp tiền điện, C nhìn thấy chiếc điện thoại của ông P trên mặt bàn nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên để đem về sử dụng. Quan sát thấy chị H đang tập trung viết hóa đơn, ông P đã đi ra ngoài, không có ai quản lý tài sản nên C nhanh chóng dùng tay phải cầm chiếc điện thoại của ông P chuyển sang bên tay trái, sau khi nhìn xung quanh không có ai, C lại đưa điện thoại sang bên tay phải và cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi lên xe mô tô rời đi. Trên đường đi từ quầy thu ngân về nhà, C đã làm rơi chiếc điện thoại trên. Khoảng 10 phút sau, ông P quay trở vào quầy thu tiền điện để lấy hóa đơn thì phát hiện bị mất chiếc điện thoại di động. Sau khi kiểm tra camera an ninh ở quầy thu tiền điện thì phát hiện Bùi Ngọc C là người đã lấy chiếc điện thoại di động, P ông đã gọi điện thoại cho C nhưng C không thừa nhận lấy chiếc điện thoại của ông P, nên ngày 22/4/2023 ông P đã làm đơn trình báo Cơ quan Công an.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thu giữ 01 video trích xuất từ camera an ninh tại quầy thu tiền điện, niêm phong gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1178/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video gửi giám định; Tại vị trí góc quay camera không quan sát được đối tượng có cầm đồ vật trên mặt bàn hay không.
Phụ lục kèm theo kết luận giám định thể hiện:
- - Thời điểm 15:04:53 đối tượng đội mũ đen, áo kẻ karo màu trắng xanh, quần màu xanh xuất hiện.
- - Thời điểm 15:04:54 – 15:06:02 đối tượng đứng phía sau người đàn ông đội mũ trắng và quan sát về phía khu vực người phụ nữ ngồi trong nhà.
- - Thời điểm 15:06:10 đối tượng di chuyển đến gần sát khu vực bàn, hai tay chống lên bàn.
- - Thời điểm 15:06:23 đối tượng di chuyển dịch sang bên phải, đầu ngoảnh nhìn ra đằng sau.
- - Thời điểm 15:06:31 đối tượng đưa tay phải về phía khu vực hông bên phải của thân người (dạng lấy đồ vật từ trong người), đầu ngoảnh lại về phía sau.
- - Thời điểm 15:07:14 đối tượng cầm một vật (dạng điện thoại), tay phải đưa về khu vực bên hông (dạng lấy đồ vật).
- - Thời điểm 15:07:31 đối tượng cầm vật (dạng điện thoại) đi khuất khỏi khung hình.
Tại biên bản xác định hiện trường lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 19/6/2023, tại địa chỉ số nhà E thuộc tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Ông Đào Ngọc P1 mô tả lại vị trí để chiếc điện thoại di động trên bàn gỗ (bàn thu tiền điện), Bùi Ngọc C mô tả và chỉ vị trí lấy chiếc điện thoại trùng khớp với vị trí mà ông Đào Ngọc P1 mô tả đã để chiếc điện thoại di động.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, 64Gb, màu vàng, đã qua sử dụng có giá trị 4.500.000 đồng; 01 ốp nhựa trong suốt, đã qua sử dụng: không có cơ sở xác định giá trị của tài sản.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo Bùi Ngọc C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và phụ lục kèm theo kết luận giám định trích xuất hình ảnh từ camera, kết luận định giá, lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, 64Gb, màu vàng, đã qua sử dụng và 01 (một) ốp nhựa trong suốt, đã qua sử dụng. Hiện tài sản không thu hồi được.
Phần dân sự:
- Bị cáo Bùi Ngọc C đã bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho ông Đào Văn P. Ông P không có yêu cầu, đề nghị gì.
Với hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 330/CT-VKS ngày 31/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Bùi Ngọc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xác định bản cáo trạng của VKS nhân dân thành phố T truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Ngọc C từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, Bùi Ngọc C đã bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho ông Đào Văn P. Ông P không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, 64Gb, màu vàng, đã qua sử dụng và 01 (một) ốp nhựa trong suốt, đã qua sử dụng. Hiện tài sản không thu hồi được.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2]. Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại là ông Đào Văn P, người làm chứng là chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Quang H1 nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ, quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã ghi đầy đủ lời khai của anh ông P, chị H, anh H1 không đề nghị gì. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX căn cứ vào Điều 292, 293 của BLTTHS quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/4/2023, bị cáo Bùi Ngọc C đến số nhà E thuộc địa phận tổ H, phường T, thành phố T để nộp tiền điện cho gia đình. Sau khi nộp tiền điện xong, C nhìn thấy trên mặt bàn phía bên ngoài tấm kính chắn giọt bắn của bàn thu tiền điện có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của ông P trên mặt bàn nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. Quan sát thấy chị H đang tập trung viết hóa đơn, ông P đã đi ra ngoài, không có ai quản lý tài sản nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại trên rồi đút vào túi quần và đi về. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 4.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Bùi Ngọc C lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Nội dung Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định như sau:
“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Bùi Ngọc C theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, thấy: hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:
[4.1]. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[4.2]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5]. Về hình phạt chính: Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, do nhất thời nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, mà cần tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tập trung cải tạo ngoài cộng đồng, dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời cũng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước và Pháp luật mà tự nhìn nhận, tu dưỡng lại bản thân.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có công việc và thu nhập ổn định, bị cáo phạm tội nhằm mục đích trục lợi, thu lời bất chính cho bản thân nên cần thiết phạt bổ sung đối với bị cáo một khoản tiền là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho ông Đào Văn P. Ông Đào Văn P không yêu cầu, đề nghị gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[8]. Về vật chứng vụ án: đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max mà bị cáo trộm cắp của ông P, quá trình điều tra xác định bị cáo đã làm mất chiếc điện thoại trên đường đi từ vị trí bị cáo trộm cắp về nhà, quá trình điều tra không thu hồi được nên HĐXX không xem xét.
[9]. Xét đề nghị của đại diện tại phiên tòa về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 299 của Bộ luật tố tụng hình sự:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
[2]. Về hình phạt:
[2.1]. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc C 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Bùi Ngọc C, bị cáo Bùi Ngọc C không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày tuyên án cho đến khi thi hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi trong thời gian bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
[2.2]. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
[4]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên toà, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại ông Đào Văn P vắng mặt tại phiên toà, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 356/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 356/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Ngọc C trộm cắp tài sản
