Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 356/2024/HS-ST

Ngày: 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 282/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 397/2024/QĐXXST–HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh D, sinh năm: 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 72 K, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ngọc T1; chưa có vợ con; tiền án: không có; tiền sự: - Quyết định số 497/2021/QĐ-TA ngày 27/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 20/10/2022; nhân thân: - Ngày 10/10/2016, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; - Quyết định số 606/QĐ-TA ngày 09/11/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng; ngày 16/01/2024, Cơ sở cai nghiện ma túy P ban hành Quyết định số 03/QĐ-CSPĐ tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; bị bắt, tạm giam ngày: 13/3/2024 (có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần).

Bị hại: Ông Thạch Văn A, sinh năm: 1999.

Thường trú: Ấp Trà Nóc, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Nơi ở: 165/2A đường số 8, khu phố 2, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu trung tâm)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/07/2023, Nguyễn Mạnh D điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen (không rõ biển số) đi lòng vòng trên các tuyến đường thuộc phường H, thành phố T để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến gần địa chỉ A đường số H, khu phố B, phường H, thành phố T, D phát hiện 01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xám biển số 84B1-884.73 của ông Thạch Văn A dựng bên hông nhà không có ai trông coi nên D tìm chỗ cất giấu xe mô tô hiệu Yamaha Sirius mà D đang điều khiển vào bụi cây, cách xe mô tô của ông A khoảng 10m rồi đi bộ đến lấy trộm xe mô tô hiệu Suzuki Raider biển số 84B1-884.73. Tại đây, D đẩy bộ xe mô tô biển số 84B1-884.73 về dựng trước lối đi lên dãy phòng trọ của bạn gái D là Ngô Thị Bích H tại đường số A, khu phố E, phường H, thành phố T. Để tránh bị phát hiện, D tháo biển số 84B1-884.73 rồi thay biển số khác vào (biển số này do Duy nhặt được ngoài đường trước đó nên không nhớ biển số) rồi mở đầu đèn xe mô tô biển số Suzuki Raider để tháo dây và tháo cục định vị, sau đó D vứt bỏ biển số 84B1-884.73 và cục định vị xe vào thùng rác để trước cửa phòng trọ của H rồi đấu lại dây điện cho xe nổ máy và trùm áo mưa lại để không bị phát hiện. D mượn xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 5 màu xanh (không rõ biển số) của H và nhờ Lương Ngọc S là bạn quen biết ngoài xã hội, chở D về nhà D tại phường H, thành phố T để lấy đồ mặc. Khi đi ngang qua chỗ cất giấu xe Yamaha Sirius trước đó, D không tìm thấy xe mô tô trên nên D kêu S quay về nhà H ngủ.

Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 26/7/2023, D thức dậy xuống chỗ cất giấu xe mô tô vừa trộm được thì thấy 01 nam thanh niên nghi là chủ xe đứng gần đó nên D nhanh chóng xuống nổ máy xe mô tô biển số 84B1-884.73 chạy tẩu thoát ra đường Q, hướng về Ngã tư B. Trên đường đi, D điện thoại cho S1 (không rõ lai lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội nói vừa trộm được xe cần bán gấp với giá 5.500.000 đồng, S1 đồng ý mua và hẹn gặp D tại Ngã tư G thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, D đến điểm hẹn gặp 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) do S1 kêu đến, tại đây, D nhận số tiền 5.500.000 đồng và đưa xe mô tô đã lấy trộm cho nam thanh niên trên. Ông Thạch Văn A đến Công an phường H trình báo sự việc bị mất trộm tài sản. Qua truy xét, D bị phát hiện.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Qua làm việc, Ngô Thị Bích H khai nhận: H không biết D lấy trộm xe mô tô biển số 84B1-884.73 đã lấy trộm được để dưới phòng trọ của H, nếu H biết thì H sẽ không cho phép D để xe mô tô trên dưới phòng trọ của mình. Lương Ngọc S khai nhận khoảng sáng ngày 26/7/2023, S định đi mua nước uống thì phát hiện có 01 xe mô tô được đậy áo mưa lên trên yên xe, tuy nhiên S không biết là xe do D lấy trộm.

Kết luận định giá tài sản số 412-KV3/HĐĐGTS ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: Xe mô tô hiệu Suzuki Rainer màu xám đen biển số: 84B1-884.73 có giá 28.333.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu gold (đã qua sử dụng).
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu tím (đã qua sử dụng).

Tại Bản Cáo trạng số 281/CT-VKSTPTĐ ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạnh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại ông Thạch Văn A trình bày: Yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá xe mô tô hiệu Suzuki Raider biển số 84B1-884.73 theo kết luận định giá tài sản là 28.333.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Mạnh D phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản xác định địa điểm, bản kết luận định giá tài sản và các biên bản hoạt động điều tra khác... Từ đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, tại số A đường số H, khu phố B, phường H, thành phố T, lợi dụng lúc không có người trông coi, bị cáo Nguyễn Mạnh D lén lút lấy xe mô tô hiệu Suzuki Raider biển số 84B1-884.73 của ông Thạch Văn A. Bị cáo mang xe về dựng trước lối đi lên phòng trọ của bạn gái tên là Ngô Thị Bích H và thay biển số xe, tháo cục định vị. Qua ngày 26/7/2023, bị cáo liên hệ với tên S1 (không rõ lai lịch) để bán xe với giá 5.500.000 đồng và tiêu xài hết tiền. Quy truy xét, bị cáo bị phát hiện và bắt giữ, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Mạnh D phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Theo kết quả định giá thì chiếc xe mô tô hiệu Suzuki Rainer biển số 84B1-884.73 trị giá 28.333.000 đồng. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân, bị cáo có tiền sự và nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì hành vi sử dụng ma túy. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với Ngô Thị Bích HLương Ngọc S: Sau khi lấy trộm xe, bị cáo D mang xe về để trước phòng trọ của H. Bị cáo không nói với H và S là xe do bị cáo trộm cắp nên không có căn cứ xử lý.

Đối với tên S1 là người đã mua xe mô tô biển số 84B1-884.73, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

[3]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • Bị hại ông Thạch Văn A yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá xe mô tô hiệu Suzuki Rainer biển số 84B1-884.73 theo kết luận định giá là 28.333.000 đồng. Xét yêu cầu của ông A là có căn cứ, bị cáo đồng ý bồi thường do đó buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu gold (đã qua sử dụng), bị cáo sử dụng trong việc liên lạc mua bán xe nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu tím (đã qua sử dụng), không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.

  • Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh D có trách nhiệm bồi thường cho bị hại ông Thạch Văn A số tiền 28.333.000 (Hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu gold (đã qua sử dụng).
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Mạnh D: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu tím (đã qua sử dụng).

(Theo Phiếu nhập kho số NK24/258C ngày 13/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.416.650 (Một triệu bốn trăm mười sáu nghìn sáu trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Thủ Đức;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 356/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 356/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger