|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 356/2023/HS-ST |
Ngày 03 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Lực.
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 349/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 486/2023/QĐXX-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Trịnh Hưng K, sinh năm 1995 tại Bình Định; thường trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Thế H, sinh năm 1966 và bà Lưu Thị Kim C, sinh năm 1966; có 03 anh ruột, lớn nhất sinh năm 1986; nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 24/10/2022 cho đến nay. Có mặt.
2. Châu Văn T, sinh năm 1990, tại Bình Định; thường trú: Thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Châu Văn T1, sinh năm 1953 và bà Lương Thị Ánh T2, sinh năm 1954; có 05 anh em ruột, lớn nhất, sinh năm 1977; nhỏ nhất là bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/6/2014, bị công an huyện P, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, số tiền 750.000 đồng (đã đóng phạt ngày 11/6/2014); bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng: Trần Gia H1, sinh năm 1988. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/10/2022, sau khi bị đuổi khỏi phòng trọ, Châu Văn T và Trịnh Hưng K rủ nhau đến thuê phòng 202, nhà nghỉ “Trang Long” thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương để ở. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, T và K bàn bạc rồi thống nhất góp tiền để mua ma tuý về sử dụng. Theo đó, K góp 200.000 đồng, T góp 350.000 đồng (trong đó 300.000 đồng để mua ma túy và 50.000 đồng để mua nỏ thủy tinh sử dụng ma túy). Sau khi góp tiền, T và K thỏa thuận T là người đi mua ma túy, T đón xe G đi tới khu vực phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy và 01 nỏ thuỷ tinh thì người phụ nữ trên bán cho T 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T về phòng 202, nhà nghỉ “Trang Long” rồi đưa ma túy cùng nỏ thủy tinh cho K. Khá lấy nỏ thủy tinh gắn vào nắp chai nhựa cùng với ống hút nhựa rồi lấy một phần ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh rồi cả hai cùng sử dụng. Số ma túy còn lại cất dưới chân bàn uống nước. Đến 21 giờ 30 phút ngày 23/10/2022, do có quen biết với H1 từ trước (K biết H1 là đối tượng nghiện ma túy) nên K nói với T cho K rủ thêm Trần Gia H1 đến sử dụng ma tuý cùng thì T đồng ý. Khá gọi điện thoại và nhắn tin Z rủ H1 đến phòng 202 sử dụng ma tuý thì H1 đồng ý. Sau khi rủ được H1 thì K lấy gói ma túy cất dưới chân bàn uống nước bỏ một phần vào nỏ thủy tinh đợi H1 đến, số ma túy còn lại K để trong rổ nhựa đựng điều khiển tivi trên bàn gỗ bên trái của giường ngủ. Khi H1 đến phòng 202 thì cả ba cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/10/2022, Công an phường A phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố D kiển tra hành chính nhà nghỉ “Trang Long”. Qua kiểm tra phát hiện trong rổ nhựa trên bàn gỗ giữa phòng có 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, K và T khai nhận là ma túy đá cả hai mua về sử dụng, tiếp tục kiểm tra phát hiện trong túi quần trước bên trái của H1 có 01 nỏ thuỷ tinh. Công an phường A tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa tất cả về trụ sở làm việc. Sau đó, chuyển giao toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D xử lý theo thẩm quyền. Quá trình làm việc, K và T khai nhận số ma tuý thu giữ là của 02 người góp tiền mua về sử dụng. H1 khai nhận được K rủ đến sử dụng ma tuý, không biết K và T có tàng trữ trái phép chất ma tuý, nỏ thuỷ tinh thu giữ là của K và T đưa cho H1 sử dụng ma tuý, lúc công an đến kiểm tra vì sợ nên lấy giấu vào túi quần.
Vật chứng thu giữ:
- 01 nỏ thuỷ tinh.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, sim số 0937153968.
- 01 gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M = 0,8392 gam)
Tại bản Kết luận giám định số 488/PC09, ngày 28/10/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định thu giữ của đối tượng Trịnh Hưng K và Châu Văn T là ma túy, có khối lượng/trọng lượng 0,8392 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 02/11/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Trịnh Hưng K và Châu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Ngày 10/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Trịnh Hưng K và Châu Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số: 146/CT-VKSDA ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trịnh Hưng K, Châu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trịnh Hưng K từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về T3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Châu Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về T3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với bì thư đã niêm phong bên trong chứa 0,6436 gam là ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 nỏ thủy tinh, sim số 0937153968 là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, có IMEI1: 864326053811935 và số IMEI2: 864326053811927 là công cụ Trịnh Hưng K sử dụng để rủ rê lôi kéo Trần Gia H1 sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Gia H1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với H1 theo quy định.
- Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Châu Văn T hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, xử lý vật chứng đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định:
Ngày 21/10/2022, sau khi thuê phòng 202, nhà nghỉ “Trang Long” thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trịnh Hưng K và Châu Văn T đã có hành vi cùng bàn bạc về việc sử dụng ma túy, thống nhất góp tiền mua ma túy, nỏ thủy tinh, phân công T đi mua ma túy và nỏ thủy tinh. Sau khi mua được ma túy T đưa cho K bỏ ma túy vào nỏ rồi cả hai cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng 202, nhà nghỉ “Trang Long".
Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/10/2022, tại phòng 202, nhà nghỉ “Trang Long”, Trịnh Hưng K bàn bạc với Châu Văn T về việc rủ Trần Gia H1 (là đối tượng Nghiện ma túy – bạn của K) thì T đồng ý. Khá nhắn tin, gọi điện rủ rê H1 tham gia thì H1 đồng ý. Tại phòng 202, nhà nghỉ "” Khá và H1 cung cấp ma túy, nỏ thủy tinh rồi cùng với Trần Gia H1 sử dụng trái phép chất ma túy.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/10/2022, Công an phường A phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố D kiển tra và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ ma túy với khối lượng là 0,8392 gam, nỏ thủy tinh của Trịnh Hưng K và Châu Văn T.
Như vậy hành vi của tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 21/10/2022 và ngày 23/10/2023 của Trịnh Hưng K và Châu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); hành vi tàng trữ trái phép ma túy với khối lượng là 0,8392 gam vào ngày 24/10/2023 của Trịnh Hưng K và Châu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Cáo trạng số: 146/CT-VKSDA ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trịnh Hưng K, Châu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
- Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Trong vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo là người thực hành.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Các bị cáo Trịnh Hưng K và Châu Văn T là người nghiện ma túy.
- Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Đối với bì thư đã niêm phong bên trong chứa 0,6436 gam là ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 nỏ thủy tinh, sim số 0937153968 là công cụ K và T dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, có IMEI1: 864326053811935 và số IMEI2: 864326053811927 là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước
- Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Châu Văn T hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trịnh Hưng K, Châu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trịnh Hưng K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp chung hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022.
- Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Châu Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp chung hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 nỏ thủy tinh, sim số 0937153968, bì thư niêm phong ghi số 488/PC09 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định có 0,6436 gam, loại Methamphetamine.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, có IMEI1: 864326053811935 và số IMEI2: 864326053811927.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2023 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Trịnh Hưng K và Châu Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 356/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 356/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
