|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 356/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 4 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm;
- 2. Bà Lê Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 714/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/3/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1984. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 3 tổ A, ấp E, xã Đ, huyện H, Thphố H.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Trường T1, sinh năm: 1981. (Vắng mặt)
Địa chỉ: 3 tổ A, ấp E, xã Đ, huyện H, T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 23/5/2024, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, bà Bùi Thị Thanh T – nguyên đơn trình bày:
Ngày 08/11/2012 bà T và ông Đỗ Trường T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 128 do Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp).
Thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc, khoảng hai năm trở lại đây cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn gay gắt do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Bà T và ông T1 đã nhiều lần hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả, mâu thuẫn giữa vợ chồng vẫn xảy ra ngày càng gay gắt. Bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hạnh phúc không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1 để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Tuệ M, giới tính nữ, sinh ngày 27/9/2013 và Đỗ Thục Q, giới tính nữ, sinh ngày: 04/02/2018. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc hai con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài nợ chung: Nguyên đơn khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T tự nguyện chịu toàn bộ án phí.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ ông Đỗ Trường T1 nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ giai đoạn thụ lý đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà Bùi Thị Thanh T và ông Đỗ Trường T1 là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Đỗ Trường T1 có nơi cư trú tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập tham gia tố tụng cho bị đơn ông Đỗ Trường T1 theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tuy nhiên, đến ngày mở phiên tòa lần thứ nhất và lần thứ hai bị đơn ông Đỗ Trường T1 đều không có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 20/02/2025, nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ lời khai và xác định cụ thể yêu cầu khởi kiện nên việc nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án đồng thời phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
- Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 128, quyển số 02/2012, do Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 08/11/2012 thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T, và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Hội đồng xét xử nhận thấy: Cuộc sống hôn nhân của bà T và ông T1 xảy ra mâu thuẫn gay gắt do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, việc hàn gắn là không còn biện pháp, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà T có yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống cũng là nguyện vọng chính đáng.
Các tình tiết trên, Tòa án đã thông báo đến cho ông T1 nhưng ông T1 vẫn không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết trên là sự thật.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Thanh T.
- Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung tên Đỗ Tuệ M, sinh ngày 27/9/2013 và Đỗ Thục Q, sinh ngày 04/02/2018. Hiện nay, cả hai con chung đang sống cùng với bà Bùi Thị Thanh T và bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Bà T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung đến khi con trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy việc tiếp tục để 02 trẻ sống cùng mẹ là để đảm bảo sự phát triển bình thường, không xáo trộn cuộc sống của trẻ, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc giao trẻ Thục Q và Tuệ M cho bà Bùi Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị Thanh T phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 59; Điều 81; Điều 82,;Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1984 được ly hôn với ông Đỗ Trường T1, sinh năm 1981.
- Về con chung: Giao hai con chung tên Đỗ Tuệ M, giới tính nữ, sinh ngày 27/9/2013 và Đỗ Thục Q, giới tính nữ, sinh ngày 04/02/2018 cho bà Bùi Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đỗ Trường T1 đến khi bà T có đơn yêu cầu.
Ông Đỗ Trường T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của ông T1 nếu việc thăm nom cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trong trường hợp có căn cứ Cha, mẹ; Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị Thanh T phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0024947 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị Thanh T và ông Đỗ Trường T1 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 356/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 356/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
