Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 356/2024/HS-PT

Ngày 05 tháng 8 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Ký

Bà Nguyễn Thị Quyên

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 248/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trần Việt H cùng đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HSST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2024/QĐXX - PTHS ngày 17/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 232/2024/HSPT-QĐ ngày 29/7/2024.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Trần Việt H; Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1982 tại Gia Lai.

Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn L (không rõ năm sinh) và con bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1964. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Có vợ Trần Thị T, sinh năm 1986, có 03 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/10/2023 tại thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Gia Lai đến nay.

2. Họ và tên: An Minh T1; Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1994 tại Sóc Trăng.

Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông AN K, sinh năm 1972 và con bà Hồng Thị L1, sinh năm 1972. Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình, có vợ: Phan Nữ T2, sinh năm 1987 có 02 người sinh năm 2014 và sinh năm 2018. Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/10/2023 tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên đến nay.

Bị cáo bị kháng nghị:

3. Họ và tên: Nguyễn Thị X; Tên gọi khác: Xinh. Sinh năm 1974 tại Campuchia.

Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1941 (đã chết) và con bà Huỳnh Thị T3, sinh năm 1949. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Có chồng: Nguyễn Văn N, sinh năm 1975 (đã chết). Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/7/2023 tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đến nay.

(Các bị cáo Trần Việt H, An Minh T1 có mặt; bị cáo Nguyễn Thị X vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/3/2023, qua tin báo của quần chúng nhân dân, Đội CSĐTTP về KT - MT Công an huyện X phối hợp với Công an xã X tiến hành tuần tra, kiểm tra trên tuyến đường dân sinh thuộc ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai phát hiện ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972, trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đang điều khiển xe mô tô biển số 60M8 - 1633, trên xe đang chở 04 (bốn) can nhựa loại 30 lít/can, bên trong có chứa chất lỏng, P khai nhận là dầu Diesel đang chở thuê cho bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi là X1) ở xã X. Tại thời điểm kiểm tra, ông P không cung cấp được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Tiếp tục kiểm tra trên tuyến đường, Tổ công tác phát hiện tại vị trí cách hiện trường khoảng 20m có một xe mô tô, biển số 60T4 - 9251, trên xe có 03 (ba) can nhựa loại 30 lít/can, bên trong chứa chất lỏng, nghi là dầu Diesel, không có chủ phương tiện. Tổ công tác đã lập biên bản và tạm giữ toàn bộ tang vật, phương tiện liên quan.

Qua xác minh xác định xe máy và 03 (ba) can nhựa nghi chứa dầu trên là của Nguyễn Thị X. Công an huyện X mời Nguyễn Thị X làm việc và X khai nhận xe mô tô, biển số 60T4 - 9251, trên xe có 03 (ba) can nhựa loại 30 lít/can bên trong chứa chất lỏng là dầu Diesel do X mới mua từ các nhân viên tên An Minh T1, Nguyễn Văn T4, Trần Đình Đ1, Lê Văn V tại khu vực lán trại 62, Công trường cao tốc P - D. Do bản thân X biết đây là dầu do các nhân viên thi công cao tốc đã lấy trộm trước đó bán lại nên khi đang chở dầu về thì phát hiện Công an kiểm tra nên đã bỏ xe chạy trốn. Sau đó, X tự nguyện giao nộp 03 (ba) can nhựa loại 30 lít/can bên trong chứa chất lỏng là dầu Diesel cũng mua của nhân viên thi công cao tốc trước đó. Giá mỗi can dầu 30 lít X mua là 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn).

Ngoài ra, Công an kiểm tra phát hiện, còn có hai xe máy của ông Trần Hồng P1 và Nguyễn Văn C (con rể của ông P1) ở ấp T, xã X, X, Đồng Nai đã mua dầu xong và đã bỏ chạy. Tiến hành mời P1 và C làm việc. P1 thừa nhận có mua dầu của Trần Văn L2 là nhân viên thi công cao tốc, P1 hoàn toàn không biết dầu do L2 trộm cắp mà có, khi Công an bắt thì P1 mới biết. P1 mua 04 (bốn) can dầu (03 (ba) can 30 lít, 01 (một) can 20 lít). Giá mỗi can dầu P1 mua có giá như sau: 01 (một) can 30 lít dầu là 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) can 20 lít dầu giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn). Mua dầu xong, P1 chở 02 (hai) can dầu 30 lít và nhờ C đi chở phụ 01 (một) can dầu 30 lít, 01 (một) can dầu 20 lít. Khi đang chở dầu về thì phát hiện có Công an kiểm tra nên đã lái xe bỏ chạy thoát về nhà. Sau đó, P1, C bị mời làm việc, đồng thời tự nguyện giao nộp lại 04 (bốn) can dầu đã mua.

Quá trình điều tra đã xác định được các đối tượng đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

1. Đối với Trần Việt H: là tài xế lái xe bồn bê tông cho Công ty cổ phần T10 thi công đoạn Km 62 đường C - D, có nhiệm vụ điều khiển xe biển số 83C-059.45 chở nước tưới cho công trình. Mỗi ngày, H được Công ty cổ phần T10 cấp cho 60 lít dầu Diesel trong 02 (hai) can, mỗi can 30 lít để đổ cho xe ô tô biển số 83C-05945 và đổ vào máy nổ bơm nước được đặt trên xe. H đã nảy sinh ý định rút số dầu dư gom dần để dành bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định, khi được cấp dầu thì H không đổ hết dầu vào bình mà để lại 10 lít đổ vào máy chạy bơm nước rửa bồn bê tông, ngày nào chạy nhiều thì hết dầu không lấy được, ngày nào chạy ít dư dầu thì H lén lút lấy trộm rồi đựng vào can nhựa 30 lít để dành bán, do điều kiện khách quan nên H đã nhiều lần lén lút lấy trộm dầu, trung bình mỗi lần lấy khoảng 3-5 lít dầu.

Vào đầu tháng 02/2023 khi đang đổ bê tông đường cao tốc, thì Nguyễn Thị X (tên thường gọi là X1) đến hỏi H “Chạy xe có dư dầu để bán không”, H trả lời “Lâu lâu mới có”. Sau đó, X đã chủ động cho H số điện thoại 0338.929.xxx của X để khi có dầu H điện thoại cho X đến gặp H để mua dầu. H đã bán dầu cho X được 02 lần, cụ thể:

Lần 1: vào khoảng ngày 12/02/2023, H điện thoại cho X báo có dầu để bán, X đến gặp H và đưa H 03 (ba) vỏ can, mỗi can 30 lít. H bán cho X 03 (ba) can dầu diesel, tổng 90 lít, với giá 450.000 đồng/can, thu được số tiền 1.350.000 đồng (Một triệu, ba trăm năm mươi) và tiêu xài cá nhân hết.

Lần 2: vào ngày 25/02/2023, H tiếp tục điện thoại cho X và bán cho X 03 (ba) can dầu diesel, tổng 90 lít, thu được số tiền 1.350.000 đồng (Một triệu, ba trăm năm mươi) và tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 16/5/2023, Trần Việt H thay đổi lời khai: ngày 12/2/2023, H bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, thu được số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn) và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 25/2/2023, H tiếp tục bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, thu được số tiền 450.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Ngoài ra, ông Võ Văn B thủ kho có gửi cho H 04 (bốn) can dầu diesel, tổng 120 lít bán dùm. H đã bán cho X 04 (bốn) can dầu của ông B được 1.800.000 đồng, H đã đưa tiền bán dầu cho ông B. Việc H thay đổi lời khai do nghĩ hành vi trộm cắp của H là vụ việc đơn giản, chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính nên H nhận thay cho ông B. Tuy nhiên, qua các chứng cứ được thu thập đúng theo quy định có trong hồ sơ vụ án là: bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của Võ Văn B ngày 12/3/2023, ngày 19/5/2023 thể hiện: ông B không thừa nhận ngày 25/02/2023 ông B gửi 04 (bốn) can dầu diesel, tổng 120 lít cho H mang ra ngoài bán cho X; cùng với các tài liệu chứng cứ khác đã có đủ chứng cứ chứng minh ngày 25/02/2023, H có hành vi lén lút trộm cắp 05 (năm) can dầu diesel, tổng 180 lít và bán cho X, thu được số tiền 2.250.000 đồng (Hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 90 lít dầu diesel do Trần Việt H chiếm đoạt (thời điểm ngày 12/02/2023) có giá trị 1.940.400 đồng (Một triệu chín trăm bốn mươi ngàn bốn trăm); 90 lít dầu diesel do Trần Việt H chiếm đoạt (thời điểm ngày 25/02/2023) có giá trị 1.872.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi hai ngàn). Tổng giá trị 180 lít dầu diesel H chiếm đoạt có giá trị là 3.812.000 đồng (Ba triệu tám trăm mười hai nghìn).

2. Đối với An Minh T1: là tài xế lái xe ben cho Công ty cổ phần T10 đang thi công đường đoạn Km 62 đường C - D, có nhiệm vụ điều khiển xe ben chở vật liệu cho công trình. Mỗi ngày, T1 được Công ty cổ phần T10 cấp cho 60 (sáu mươi) lít dầu Diesel trong hai can loại 30 lít/1 can để đổ vào xe ben. Mỗi ngày làm việc thường sẽ dư lại một ít dầu Diesel trong bình dầu xe 3 đến 4 lít, Công ty không thu hồi lại số dầu dư trên. Do đó, T1 nảy sinh ý định lấy số dầu dư gom lại vào can 30 lít khi nào đầy để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định, khi đến giờ nghỉ trưa thì T1 tháo ốc ở bình dầu con của xe tải ben để dầu chảy ra vào can nhựa 30 lít mà T1 đã chuẩn bị sẵn, do công việc xuyên suốt nên ngày nào T1 cũng lấy trộm dầu trong xe ben khoảng 3 đến 4 lít dầu, khi nào đầy can sẽ bán với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn).

Vào khoảng cuối tháng 02/2023, An Minh T1 biết Nguyễn Thị X (X1) có số điện thoại 0338.929.xxx có mua dầu nên T1 đã liên hệ với X trao đổi và hẹn trước là khi nào có dầu thì sẽ báo cho X đến mua. T1 đã bán dầu Diesel cho X được 03 lần, cụ thể:

Lần 1: Vào tối ngày 23/02/2023, T1 điện thoại cho X báo có dầu để bán, X đến gặp T1 và đưa Trường A (một) vỏ can 30 (ba mươi) lít. T1 đổ dầu diesel qua can, bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, thu được số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn) và tiêu xài cá nhân hết.

Lần 2: Vào tối ngày 26/02/2023, T1 tiếp tục điện thoại cho X và bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, thu được 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn) và tiêu xài cá nhân hết.

Lần 3: Vào tối ngày 28/02/2023, T1 tiếp tục điện thoại cho X và bán cho X 03 (ba) can dầu diesel, tổng 90 lít, thu được số tiền 1.350.000 đồng. Trong số dầu trên, T1 chỉ có 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, còn 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít là của Lê Trần T5 và Nguyễn Thái K1 nhờ T1 hút trộm dầu ở xe của T5, K1 và nhờ T1 bán dùm. Việc T1 bán dầu dùm cho K1 và T5 thì X không biết.

Tổng số tiền T1 bán 03 lần dầu Diesel cho X là 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi ngàn). Đến ngày 01/3/2023, T1 bị Công an mời làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm nêu trên.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu diesel do An Minh T1 chiếm đoạt (thời điểm ngày 23/02/2023) có giá trị 624.000 đồng; 30 lít dầu diesel do An Minh T1 chiếm đoạt (thời điểm ngày 26/2/2023) có giá trị 624.000 đồng; 90 lít dầu diesel do An Minh T1 chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/02/2023) có giá trị 1.872.000 đồng. Tổng giá trị bị chiếm đoạt là 3.120.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi nghìn).

3. Đối với Nguyễn Thị X: Do nhà X ở gần khu vực cao tốc nên có quen biết một số tài xế làm việc đang thi công đường đoạn Km 62 đường C - D và X có biết các tài xế lấy trộm dầu diesel trong các xe công trình đang thi công bán ra ngoài.

Do đó, vào đầu tháng 02/2023 X đã vào khu vực L3 trại số 62 ở công trường cao tốc gặp, trao đổi với các tài xế trong công trình cao tốc để mua dầu về bán lại kiếm lời, đồng thời X để lại số điện thoại của X số 0338.929.xxx để liên hệ. Khi mua, X đưa vỏ can nhựa loại 30 lít cho tài xế cao tốc đổ dầu trộm được vào can và bán cho X với giá 450.000đ/can dầu diesel 30 lít. X đã mua dầu của 07 người là tài xế trong công trình cao tốc, cụ thể:

  • - Từ ngày 23/02/2023 đến ngày 28/02/2023, X mua dầu của An Minh T1 được 03 lần, 05 (năm) can dầu diesel, tổng 150 lít với tổng số tiền 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn).
  • - Từ ngày 12/02/2023 đến ngày 25/02/2023, X mua của Trần Việt H 02 lần, 06 (sáu) can dầu Diesel, tổng 180 lít với tổng số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm ngàn) X đã trả đủ tiền cho H.
  • - Ngày 28/02/2023 X mua của Trần Đình Đ1 được 01 (một) lần, 02 (hai) can dầu Diesel, tổng 60 lít với tổng số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn) X chưa trả tiền cho Đ1.
  • - Ngày 18/02/2023 đến 28/02/2023, X mua của Lê Văn V được 02 lần, 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít với tổng số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn) X đã trả cho V 450.000 đồng, còn nợ 450.000 đồng.
  • - Đầu tháng 02/2023 đến ngày 28/02/2023, X mua của Nguyễn Văn T4 được 02 lần, 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít với tổng số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn) X đã trả đủ tiền cho T4.
  • - Ngày 25/02/2023 đến ngày 28/02/2023 X mua của Nguyễn Xuân Q được 02 lần, tổng 02 (hai) can dầu Diesel, tổng 60 lít với tổng số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn) X đã trả tiền đủ cho Q.
  • - Từ ngày 06/02/2023 đến ngày 25/02/2023 X mua của Trịnh Hồng C1 (tên thường gọi là K2) được 02 lần, tổng 02 (hai) can dầu Diesel, tổng 60 lít với tổng số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn) X đã trả tiền đủ cho C1.

Từ ngày 25/02/2023 đến ngày 28/02/2023, sau khi mua được dầu thì X đã bán lại cho những người sau:

  • + Bán cho Nguyễn Ngọc P2, sinh năm 1990, trú ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, cây xăng ở trên đường L-X 03 lần, tổng 08 (tám) can dầu diesel, tổng 240 lít, với giá 500.000đ/can, thu được tổng số tiền 4.000.000 đồng (Bốn trăm ngàn). Khi mua dầu của X, Nguyễn Ngọc P2 hoàn toàn không biết dầu do X mua tài sản trộm cắp mà có.
  • + Bán cho anh T6 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở xã X được 02 lần, tổng 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít, với giá 580.000đ/can, thu được số tiền 1.160.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi ngàn).
  • + Bán cho một người tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực G được 01 (một) lần, tổng 06 (sáu) can dầu diesel, tổng 180 lít, với giá 500.000đ/can, thu được số tiền 3.000.000 đồng (Ba trăm ngàn).

Tổng số 480 lít dầu Diesel, X đã bán và thu lợi bất chính số tiền 8.160.000 (Tám triệu một trăm sáu mươi nghìn).

4. Đối với Lê Trần T5, sinh năm 1996, trú thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Tĩnh là công nhân lái xe trộn bê tông phục vụ cho công trình cao tốc D - P từ thời gian khoảng tháng 02/2023 cho đến nay. Tối ngày 28/02/2023, T5 nhờ T1 hút trộm dầu ở xe mà T5 đang được giao quản lý được 01 (một) can dầu Diesel 30 lít và nhờ T1 bán dùm cho bà Nguyễn Thị X với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn). Tĩnh chưa nhận được tiền từ An Minh T1.

5. Đối với Nguyễn Thái K1, sinh năm 1980, trú làng P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum. K1 là công nhân lái xe trộn bê tông phục vụ cho công trình cao tốc D - P từ thời gian khoảng tháng 01/2023 cho đến nay. Vào ngày 28/02/2023 do công việc ít lại và có dầu dư, K1 gọi điện thoại nhờ T1 hút trộm dầu trong xe mà K1 đang được giao quản lý được 01 (một) can dầu Diesel, 30 lít và nhờ T1 bán dùm cho bà X với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn) Khiêm chưa nhận được tiền từ An Minh T1.

6. Đối với Trần Văn L2, sinh năm 1991, trú xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, là công nhân lái xe lu của Công ty cổ phần T10 phục vụ thi công công trường cao tốc D - P. Từ ngày 20/02/2023 đến ngày 28/02/2023 L2 đã có hành vi lén lút trộm cắp dầu Công ty cổ phần T10 và bán cho Nguyễn Hồng P3 02 (hai) lần, tổng 80 lít dầu diesel, thu lợi số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn). Khi mua P3 hoàn toàn không biết dầu do L2 trộm cắp mà có, cụ thể: Tối ngày 20/02/2023 L2 bán cho P3 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn). Tối ngày 28/02/2023, L2 bán cho P3 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn) và 01 (một) can dầu diesel, 20 lít, với giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu diesel do Trần Văn L2 chiếm đoạt (thời điểm ngày 20/02/2023) có giá trị 624.000 đồng; 50 lít dầu diesel do Trần Văn L2 chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/02/2023) có giá trị 1.040.000 đồng. Tổng giá trị 80 lít dầu diesel L2 chiếm đoạt có giá trị là 1.664.000 (Một triệu sáu trăm sáu mươi bốn nghìn).

7. Đối với Trịnh Hồng C1, sinh năm 1975, trú tổ C, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, là nhân viên của Công ty cổ phần T10 từ tháng 7/2022. Chính được giao nhiệm vụ là tài xế lái xe ben biển số 82C-004.22 để phục vụ thi công công trường cao tốc D - P qua đoạn xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Mỗi ngày, tại công trường xe ben biển số 82C-004.22 do C1 điều khiển sẽ được cấp 60 lít dầu diesel để hoạt động, C1 không đổ hết dầu vào bình mà lén lút trộm cắp dầu bằng cách để lại 3 đến 4 lít rồi gom trữ vào can nhựa loại 30 lít để trên ca bin xe, khi đầy bán lấy tiền tiêu xài. Từ ngày 06/02/2023 đến ngày 25/02/2023, C1 đã trộm cắp dầu diesel của Công ty cổ phần T10 và bán cho Nguyễn Thị X (Xinh) 02 lần, tổng 02 (một) can dầu diesel, tổng 60 lít, thu lợi số tiền 900.000 đồng, cụ thể: Tối ngày 06/02/2023 C1 bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn). Tối ngày 25/02/2023 C1 bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn), đã lấy được tiền.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu diesel do Trịnh Hồng C1 chiếm đoạt (thời điểm ngày 06/02/2023) có giá trị 675.600 đồng; 30 lít dầu diesel do Trịnh Hồng C1 chiếm đoạt (thời điểm ngày 25/02/2023) có giá trị 624.000 đồng; Tổng giá trị C1 chiếm đoạt là 1.299.600 đồng (Một triệu hai trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm).

8. Đối với Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992, trú thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, là tài xế lái xe ben cho Công ty cổ phần T10 thi công đoạn Km 62 đường C - D. Từ đầu tháng 02/2023 đến ngày 28/02/2023 T4 đã có hành vi lén lút trộm cắp được 02 (hai) can dầu Diese, tổng 60 lít của Công ty cổ phần T10 và bán cho Nguyễn Thị X 02 lần, cụ thể: Khoảng đầu tháng 02/2023, T4 bán cho X 01 (một) can dầu Diesel, 30 lít với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn), chưa nhận được tiền. Tối ngày 28/02/2023 T4 bán cho X 01 (một) can dầu Diesel, 30 lít với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn), đã lấy được tiền.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu diesel do Nguyễn Văn T4 chiếm đoạt (thời điểm ngày 05/02/2023) có giá trị 675.600 đồng; 30 lít dầu diesel do Nguyễn Văn T4 chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/02/2023) có giá trị 624.000 đồng; Tổng giá trị 60 lít dầu diesel bị T4 chiếm đoạt có giá trị là 1.299.600 (Một triệu hai trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm).

9. Đối với Lê Văn V, sinh năm 1984, trú tại tổ Dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, là tài xế lái xe ô tô tải ben biển số 82C-00127 cho Công ty cổ phần T10 thi công đoạn Km 62 đường C - D. Hàng ngày, V đi nhận nhiên liệu là 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít đổ vào xe, nhưng V không đổ hết dầu vào xe mà chừa lại 4 đến 5 lít cất vào can nhựa 30 lít để lấy trộm. Khi nào đầy can thì V bán cho Nguyễn Thị X. Từ ngày 18/02/2023 đến ngày 28/02/2023 V đã có hành vi lén lút trộm cắp dầu và bán cho Nguyễn Thị X 02 (hai) lần, cụ thể: Tối ngày 18/02/2023 V bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, thu được số tiền 450.000 đồng. Tối ngày 28/02/2023, V tiếp tục bán cho X 01 (một) can dầu Diesel, 30 lít, được số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn) nhưng chưa lấy được tiền.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu Diesel do Lê Văn V chiếm đoạt (thời điểm ngày 18/02/2023) có giá trị 646.800 đồng và 30 lít dầu Diesel do Lê Văn V chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/02/2023) có giá trị 624.000 đồng. Tổng giá trị 60 lít dầu Diesel bị V chiếm đoạt là 1.270.800 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi ngàn tám trăm).

10. Đối với Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1978, trú phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum, là tài xế lái máy xúc lật cho Công ty cổ phần T10 thi công đoạn Km 62 đường C - D. Từ đầu tháng 02/2023 đến ngày 25/02/2023, Q đã có hành vi lén lút trộm cắp dầu Diesel của Công ty cổ phần T10 và bán cho Nguyễn Thị X 02 (hai) lần, cụ thể: ngày 25/02/2023 Q bán cho X 01 (một) can dầu diesel, 30 lít, được số tiền 450.000 đồng. Tối ngày 28/02/2023 Q bán cho X 01 (một) can dầu Diesel, 30 lít, được số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn). Tổng số dầu Q trộm được 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít bán cho X, thu lợi số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu diesel do Nguyễn Xuân Q chiếm đoạt (thời điểm ngày 25/02/2023) có giá trị 624.000 đồng; 30 lít dầu diesel do Nguyễn Xuân Q chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/02/2023) có giá trị 624.000 đồng. Tổng giá trị 60 lít dầu diesel bị Q chiếm đoạt là 1.248.000 đồng (Một triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn).

11. Đối với Trần Đình Đ1, sinh năm 1988, trú tại xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum là tài xế lái xe bồn biển kiểm soát 82C-06200. Đ1 đã có hành vi lén lút trộm cắp dầu diesel của Công ty cổ phần T10 bằng cách: Đ1 có chuẩn bị sẵn 05 (năm) can nhỏ loại 05 lít và 10 lít, mỗi ngày Đ1 nhận 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít từ thủ kho Công ty cổ phần T10 được đặt tại Km 62 thuộc ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nhận dầu xong, Đ1 sang chiết bót ra các can nhỏ từ 10 (mười) lít đến 15 (mười lăm) lít, số dầu còn lại Đ1 đổ vào trong xe để chạy và sử dụng cho máy nổ bơm nước. Số dầu diesel Đ1 bắt đầu sang chiết cất dấu từ ngày 24/02/2023 đến ngày 28/02/2023 thì đầy 05 (năm) can nhỏ rồi bán lại cho Nguyễn Thị X. Tối ngày 28/02/2023, Đ1 bán cho X 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít, với giá 450.000 đồng/can, tổng số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn), nhưng chưa lấy được tiền.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 60 lít dầu Diesel do Trần Đình Đ1 chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/2/2023) có giá trị 1.248.000 đồng (Một triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn).

12. Đối với Lê Trung T7, sinh năm 1997, trú thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, là công nhân lái xe lu của Công ty cổ phần T10 phục vụ thi công công trường cao tốc D - P. Khoảng cuối tháng 02/2023 do công việc ít và có dầu dư nên T7 đã nảy sinh ý định hút trộm dầu của xe lu do T7 quản lý để bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Từ ngày 26/02/2023 đến ngày 28/02/2023, T7 đã có hành vi lén lút trộm cắp dầu của Công ty cổ phần T10 và bán cho Nguyễn Hồng P3 02 (hai) lần, tổng 60 lít dầu diesel, thu lợi số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn). Những lúc bán T7 đều nhờ Trần Văn L2 gọi cho P3, khi mua thì T7 đều xách dầu ra khỏi lán trại khoảng 50m để bán cho P3, P3 hoàn toàn không biết dầu cho T7 trộm cắp mà có, cụ thể: Tối ngày 26/02/2023 T7 bán cho P3 01 (một) can dầu diesel 30 lít với giá 450.000 đồng. Tối ngày 28/02/2023 T7 bán cho P3 01 (một) can dầu diesel 30 lít với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu diesel do Lê Trung T7 chiếm đoạt (thời điểm ngày 26/2/2023) có giá trị 624.000; 30 lít dầu diesel do Lê Trung T7 chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/2/2023) có giá trị 624.000 đồng. Tổng giá trị T7 chiếm đoạt là 1.248.000 đồng (Một triệu hai trăm bốn mươi tám ngàn đồng).

13. Hồ Ngọc H2, sinh năm 2001, trú tại thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Bình Định. Từ ngày 26/02/2023 đến ngày 28/02/2023 H2 đã có hành vi lén lút hút trộm dầu xe lu do mình quản lý của Công ty cổ phần T10 và bán cho Nguyễn Hồng P3 02 (hai) lần, tổng 60 lít dầu diesel, thu lợi số tiền 900.000 đồng (Chín trăm ngàn). Những lúc bán H2 đều nhờ Trần Văn L2 gọi cho P3 hoặc H2 lấy điện thoại của L2 gọi cho P3, khi mua thì H2 đều xách dầu ra khỏi lán trại khoảng 50m để bán cho P3, P3 hoàn toàn không biết dầu cho H2 trộm cắp mà có. Cụ thể: Tối ngày 26/02/2023 H2 bán cho P3 01 (một) can dầu diesel, 30 lít với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn). Tối ngày 28/02/2023 H2 bán cho P3 01 (một) can dầu diesel, 30 lít với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện X kết luận: 30 lít dầu diesel do Hồ Ngọc H2 chiếm đoạt (thời điểm ngày 26/02/2023) có giá trị 624.000 đồng (Sáu trăm hai mươi bốn ngàn); 30 lít dầu diesel do Hồ Ngọc H2 chiếm đoạt (thời điểm ngày 28/02/2023) có giá trị 624.000 đồng (Sáu trăm hai mươi bốn ngàn). Tổng giá trị Hồ Ngọc H2 chiếm đoạt là 1.248.000 đồng (Một triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn).

14. Đối với Trần Hồng P1, sinh năm 1972, trú ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Trong lúc đi làm rẫy gần công trình cao tốc D - P đoạn X - X thì P1 có nói chuyện và quen biết Trần Văn L2 là nhân viên thi công cao tốc. Luận cho P1 biết có dầu chạy xe mua dư cần bán lại, do quen biết và cần mua dầu để đổ chạy máy cày của gia đình nên P1 đồng ý mua dầu của L2, P1 hoàn toàn không biết dầu do L2 trộm cắp mà có. Từ 20/02/2023 đến ngày 28/02/2023, P1 mua dầu của 03 (ba) người là lái xe trong công trình cao tốc, cụ thể:

  • - Tối ngày 20/02/2023, P1 mua 01 can dầu Diesel, 30 lít của L2, với giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn), sau đó P1 đem về nhà sử dụng máy cày hết.
  • - Tối ngày 26/02/2023, L2 gọi P1 mua dầu, P1 đến không gặp L2 mà gặp Lê Trung T7 và Hồ Ngọc H2, P1 mua 02 (hai) can dầu Diesel, tổng 60 lít của T7 và H2 với giá 900.000 đồng (Chín trăm ngàn). Khi mua, P1 hoàn toàn không biết dầu do T7 và H2 trộm cắp mà có, sau đó P1 đem về nhà sử dụng máy cày hết.
  • - Tối ngày 28/02/2023, L2 gọi P1 mua dầu, sau đó P1 và Nguyễn Văn C (con rể P1) cùng đi xe mô tô biển số 60B5-34377 và 60H5-09039 mua 03 (ba) can dầu diesel, loại 30 lít/can, với giá 450.000 đồng/can và 01 (một) can dầu loại 20 lít/can, với giá 300.000 đồng/1 can (cụ thể của Lê Trung T7 01 can 30 lít, Hồ Ngọc H2 01 can 30 lít, Trần Văn L2 01 can 30 lít và 01 can 20 lít), với tổng số tiền 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi ngàn). Khi mua, P1 hoàn toàn không biết dầu do L2, T7 và H2 trộm cắp mà có. Sau đó, chở dầu về nhà P1 để dành chạy máy cày. Đến lúc Cơ quan Công an mời làm việc thì P1 đã tự giao nộp số dầu đã mua.

15. Đối với Nguyễn Văn C, sinh 1994, trú ấp Đ, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vào tối ngày 28/02/2023, C được ông Trần Hồng P1 (là cha vợ) nhờ chở giúp 02 (hai) can dầu. C điều khiển xe mô tô biển số 60H5-09039 đi theo ông P1 đến công trình cao tốc để chở 01 (một) can dầu 30 lít và 01 (một) can dầu 20 lít về cho ông P1. C không được P1 trả tiền công hay trao đổi vật chất gì. Công hoàn toàn không biết dầu do trộm cắp mà có.

16. Đối với Nguyễn Văn P, sinh năm 1972, trú ấp T, xã X huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vào tối ngày 28/02/2023 P điều khiển xe mô tô biển số 60M8-1633 đến khu vực công trình cao tốc để chở thuê 04 (bốn) can dầu cho Nguyễn Thị X (X). Khi P chở đi được khoảng 200m thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu 04 (bốn) can dầu.

* Vật chứng và xử lý vật chứng:

  • - 13 (mười ba) can dầu diesel loại 30 lít/can gồm: 04 (bốn) can dầu thu của Nguyễn Văn P, 06 (sáu) can dầu thu của của Nguyễn Thị X, 02 (hai) can dầu thu của của Trần Hồng P1 và 01 (một) can dầu diesel loại 20 lít/can thu của Nguyễn Văn C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã xử lý vật chứng trả lại cho bị hại ông Đỗ Huy T8 là đại diện cho Công ty cổ phần T10.
  • - Số tiền 10.802.400 đồng (trong đó, số tiền 1.872.000 đồng do Trần Hồng P1 giao nộp và số tiền 8.930.400 đồng tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị X do X giao nộp). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã xử lý vật chứng trả lại cho bị hại ông Đỗ Huy T8 là người đại diện cho Công ty cổ phần T10.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, sim số 0338.929.399 là phương tiện do Nguyễn Thị X dùng để liên lạc trong thực hiện hành vi phạm tội thu giữ của X.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, sim số 0366.036.939 là phương tiện do An Minh T1 dùng để liên lạc trong thực hiện hành vi phạm tội thu giữ của T1.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu “Realme”, màu trắng, sim số 0963.558.057 là phương tiện do Trần Việt H dùng để liên lạc trong thực hiện hành vi phạm tội thu giữ của H.
  • - 01 (một) xe mô tô, biển số 60M8-1633, nhãn hiệu Dream, màu nâu thu giữ của Nguyễn Văn P, quá trình điều tra không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Văn P.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 60T4-9251 nhãn hiệu ATHERA, màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị X, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do Đoàn Thị P4 (vợ ông Nguyễn Văn D) đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay, bà Đoàn Thị P4 đã chết. Ngày 28/02/2023, Nguyễn Thị X (con dâu ông D) sử dụng xe mô tô trên chở tài sản phạm tội mà có, ông D không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Văn D.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 60B5- 343.77, nhãn hiệu Wave RS, màu trắng đen thu giữ của Trần Hồng P1, quá trình điều tra không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã xử lý vật chứng trả lại cho Trần Hồng P1.
  • - 03 (một) đĩa DVD ghi âm ghi hình hỏi cung bị can Trần Việt H, An Minh T1, Nguyễn Thị X.

* Trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Đỗ Huy T8 là người đại diện cho Công ty cổ phần T10 đã nhận số tiền 10.802.400 đồng (Mười triệu, tám trăm lẽ hai ngàn, bốn trăm) tiền Ngân hàng N1 và không có yêu cầu các bị cáo Trần Việt H, An Minh T1 và Nguyễn Thị X bồi thường gì thêm về dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 16/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố các bị cáo Trần Việt H, An Minh T1Nguyễn Thị X về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

4. Quyết định của cấp sơ thẩm: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38. Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017).

  • - Xử phạt: bị cáo Trần Việt H 08 (T9) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  • - Xử phạt: bị cáo An Minh T1 08 (T9) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017).

  • - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị X 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5. Kháng cáo: Ngày 08/4/2024, bị cáo hai bị cáo Trần Việt HAn Minh T1 có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.

6. Kháng nghị: Ngày 09/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc ban hành Quyết định số 02/QĐ-VKSXL kháng nghị phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo hướng xử hình phạt tù không cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Thị X

7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đối chiếu với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Việt H cùng đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm i, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Việt H, An Minh T1 mỗi bị cáo 08 tháng tù, là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng như kháng cáo của bị cáo đã nêu. Các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không có cơ sở để xem xét cho các bị cáo.

Đối với với bị cáo bị kháng nghị: Ngày 09/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc ban hành Quyết định số 02/QĐ-VKSXL kháng nghị phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo hướng xử hình phạt tù không cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Thị X. Ngày 02/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc ban hành quyết định số 367/ QĐ-VKSXL rút toàn bộ quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSXL ngày 09/4/2024 với lý do Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt bị cáo 06 tháng án treo thử thách 12 tháng là đủ tính răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đồng ý với nội dung trên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Việt HAn Minh T1 làm trong hạn luật định, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc ban hành trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị X bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc kháng nghị, trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã tống đạt cho bị cáo quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định, tuy nhiên bị cáo không đến tham gia phiên tòa. Xét sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử căn cứ Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị cáo Nguyễn Thị X.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã mô tả thể hiện: Nguyễn Thị X biết rõ dầu Diesel do Trần Việt H, An Minh T1 bán là do trộm cắp mà có, nhưng vì ham lợi nên X đồng ý mua; đồng thời X đã chủ động đưa số điện thoại để liên lạc, khi nào H, T1 trộm cắp được dầu sẽ gọi điện thoại cho X để X vào mua dầu. Khi mua, X là người đưa can cho H, T1 đựng dầu. Do đó, X đồng phạm với H, T1 với vai trò giúp sức.

- Trần Việt H, An Minh T1 là tài xế của Công ty cổ phần T10 – P, đoạn Km 62 đến K3, tại lán trại F thuộc ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Để có tiền tiêu xài, Trần Việt H, An Minh T1 đã có hành vi trộm cắp dầu diesel tại các xe của Công ty cổ phần T10. Sau khi trộm cắp tài sản, H và T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Thị X (X) đến và bán cho X, cụ thể Trần Việt H đã có hành vi trộm cắp 06 (sáu) can dầu diesel, tổng 180 lít của Công ty cổ phần T10 do H được giao quản lý. Tổng giá trị 180 lít dầu diesel bị T1 chiếm đoạt có giá trị 3.812.000 đồng (ba triệu tám trăm mười hai nghìn).

An Minh T1 đã có hành vi trộm cắp 05 (năm) can dầu diesel, tổng 150 lít của Công ty cổ phần T10 (trong đó 03 (ba) can dầu diesel, 90 lít do T1 trực tiếp trộm cắp, còn 02 (hai) can dầu diesel, tổng 60 lít là của Lê Trần T5 và Nguyễn Thái K1 nhờ T1 trộm cắp ở xe của T5, K1 và nhờ T1 bán dùm). Tổng giá trị 150 lít dầu diesel bị T1 chiếm đoạt có giá trị 3.120.000 đồng (ba triệu một trăm hai mươi nghìn).

Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; đồng thời xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, xử phạt bị cáo Trần Việt HAn Minh T1 mỗi bị cáo 08 (tám) tháng tù là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đối với kháng cáo của hai bị cáo;

Tại phiên tòa bị cáo H và bị cáo T1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng có. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị hại được các bị cáo khắc phục, chưa có tiền án tiền sự, có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là dân lao động, bị cáo T1 là người dân tộc hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Căn cứ các quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy cả hai bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo chuyển hình phạt của bị cáo sang hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo phải chấp hành, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[4] Đối với nội dung kháng nghị: Ngày 02/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc ban hành Quyết định số 367/QĐ-VKSXL rút toàn bộ quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSXL ngày 09/4/2024. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đồng ý với việc rút kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.

[3] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b và đ khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSXL ngàyViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc. Giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị X.
    2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Việt HAn Minh T1. Sửa bản án sơ thẩm số 72/2024/HSST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai về hình phạt đối với bị cáo Trần Việt HAn Minh T1
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    1. Xử phạt: bị cáo Trần Việt H 08 (T9) tháng tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Trần Việt H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    1. Xử phạt: bị cáo An Minh T1 08 (T9) tháng tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo An Minh T1 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hìnhsự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    1. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị X 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị X cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

- Các bị cáo bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Hiệu lực của Bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (3)
  • - Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc (2);
  • -Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân huyện Xuân Lộc
  • - UBND An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
  • - UBND xã Phú Cần, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
  • - UBND xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
  • - Lưu: (Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán) (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quyên

Lê Thị Ký

Đinh Thị Kiều Lương

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 356/2024/HS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 356/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị X biết rõ dầu Diesel do Trần Việt H, An Minh Tr bán là do trộm cắp mà có, nhưng vì ham lợi nên X đồng ý mua; đồng thời Xuân đã chủ động đưa số điện thoại để liên lạc, khi nào H, Trg trộm cắp được dầu sẽ gọi điện thoại cho X để X vào mua dầu. Khi mua, X là người đưa can cho H, Tr đựng dầu. Do đó, X đồng phạm với H, Tr với vai trò giúp sức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger