|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 356/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11-7-2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X - THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
- Bà Đinh Kim Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thuỵ Uyên Vy– Thư ký Tòa án nhân dân Quận X - Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận X - Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 481/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 590/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Mai Thị Ngọc V, sinh năm 1983
Địa chỉ: B344A ĐVB, Phường M6, Quận X, TP. H.
Địa chỉ liên lạc: 836 ĐVB, Phường M6, Quận X, TP. H.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1984
Địa chỉ: 836/3 ĐVB, Phường M6, Quận X, TP. H.
(Bà V, ông S vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Mai Thị Ngọc V trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thanh S chung sống với nhau từ năm 2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M6, Quận X. Trong quá trình chung sống vợ chồng bà có mẫu thuẫn, bất đồng quan điểm trong hôn nhân, không hòa giải được, bà V và ông S đã sống ly thân từ tháng 09/2023. Bà V đề nghị Tòa án nhân dân Quận X, giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S vì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng bà sống ly thân nhiều năm nay.
Về con chung: Bà và ông Nguyễn Thanh S có hai người con chung tên Nguyễn Mai Ph, sinh ngày 23/9/2013 và Nguyễn Đình L, sinh ngày 18/3/2010. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Bà V không yêu cầu ông Nguyễn Thanh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà Mai Thị Ngọc V xác nhận không có.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh S vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh S không có văn bản gửi đến Tòa án nên trong hồ sơ vụ án không có ý kiến của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Thành phố H phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Ngọc V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Mai Thị Ngọc V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh S. Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường M6, Quận X thì ông Nguyễn Thanh S có hộ khẩu thường trú tại 836/3 ĐVB, Phường M6, Quận X, TP. H và thực tế có cư trú tại địa phương. Bị đơn đang thực tế cư trú tại địa chỉ tại 836/3 ĐVB, Phường M6, Quận X, TP. H nên đây là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận X theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn liên tục vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến phản hồi. Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Mai Thị Ngọc V có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, ông Nguyễn Thanh S không đến Tòa án tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án, ông S đã từ chối quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Về nội dung khởi kiện:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Ngọc V và ông Nguyễn Thanh S chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M6, Quận X, Thành phố H (Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân phường M6, Quận X, Thành phố H cấp ngày 03/3/2009) nên hôn nhân giữa bà V và ông S là hôn nhân hợp pháp.
Bà V xác nhận bà và ông S sống chung đến 2023, trong quá trình chung sống vợ chồng bà có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong hôn nhân, không hòa giải được, vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 09 năm 2023. Nay, bà Mai Thị Ngọc V đề nghị Tòa án nhân dân Quận X giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông S đến Tòa để tham dự phiên hòa giải nhưng ông S vắng mặt không có lý do. Để có cơ sở xem xét yêu cầu của bà V, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi bà V và ông S đang sinh sống. Kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân Phường M6, Quận X cho thấy: “Địa phương không nắm được thông tin gì về tình trạng hôn nhân của bà Mai Thị Ngọc V và ông Nguyễn Thanh S”. Kết quả trả lời xác minh là phù hợp với lời khai của bà V. Trong khoảng thời gian chung sống, ông bà xảy ra mâu thuẫn, xung đột nhưng không trình báo với chính quyền địa phương, can thiệp, hòa giải; Ông bà đã sống ly thân từ 09 tháng 2023 đến nay. Một mình bà V chăm sóc, nuôi con từ lúc đó đến nay.
Xét thấy, hôn nhân giữa bà V và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà V yêu cầu được ly hôn với ông S là có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì bà V và ông S có 02 (hai) người con chung tên là Nguyễn Mai Ph, sinh ngày 23/9/2013 (Giấy khai sinh số 261, quyển số 02/2013 do Ủy ban nhân dân Phường M6, Quận X, Thành phố H cấp ngày 07/10/2013) và Nguyễn Đình L, sinh ngày 18/3/2010 (Giấy khai sinh số 84, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân Phường M6, Quận X, Thành phố H cấp ngày 31/3/2010); trẻ Nguyễn Đình L, Nguyễn Mai Ph có nguyện vọng sống với mẹ. Xét thấy, việc bà V yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà Mai Thị Ngọc V xác nhận không có. Ông Nguyễn Thanh S vắng mặt không có lời khai tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Mai Thị Ngọc V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 131 của Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Ngọc V.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Ngọc V được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.
- Về con chung: Bà Mai Thị Ngọc V và ông Nguyễn Thanh S có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Mai Ph, sinh ngày 23/9/2013 và Nguyễn Đình L, sinh ngày 18/3/2010. Giao trẻ Nguyễn Mai Ph và trẻ Nguyễn Đình L cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị Ngọc V không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở, nhưng ông S không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản vợ chồng: Bà Mai Thị Ngọc V xác nhận không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị Ngọc V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà V đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số BLTU/23P/0034120 ngày 16/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận X. Bà V đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Bà Mai Thị Ngọc V và ông Nguyễn Thanh S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 356/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X - THÀNH PHỐ H về ly hôn
- Số bản án: 356/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X - THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
