TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 356/2024/HC-PT Ngày: 26 – 04 – 2024 V/v Khiếu kiện quyết định về bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Các Thẩm phán: Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Ông Vương Minh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hà Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 1064/2023/HC-PT ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định về bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 92/2023/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 777/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1960, (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn T, sinh năm 1985, (có mặt).
- Địa chỉ: 7 Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 03/11/2022).
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai, (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị Y, sinh năm 1960, (vắng mặt);
- Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1971, (vắng mặt);
- Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1983, (vắng mặt);
- Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1984, (vắng mặt);
- Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1986, (vắng mặt);
- Chị Vũ Hồng N, sinh năm 1988, (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
7. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, (vắng mặt).
- Người kháng cáo: người khởi kiện ông Hoàng Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện của Người khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của đại diện theo ủy quyền của Người khởi kiện trình bày:
Năm 1997, ông Hoàng Văn C, bà Đặng Thị Y được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với các thửa đất gồm: Thửa đất 39, tờ bản đồ 2B, diện tích: 5.914 m²; Thửa đất số 40, tờ bản đồ 2B, diện tích: 2338 m² và Thửa đất số 108, Tờ bản đồ 8C, diện tích: 4.077 m². Các thửa đất này hiện nay là Thửa đất số 190, tờ bản đồ số 43, thuộc xã L huyện T với tổng diện tích là: 9890,9 m².
Năm 1999, ông Hoàng Văn C xây dựng nhà ở kiên cố với kết cấu tường xây tô, sơn nước, mái tôn diện tích ngang 10,5 m dài 12m, loại nhà: C4H2, gia đình ông sử dụng từ đó đến nay. Ngày 27/12/2019, UBND huyện T đã ban hành quyết định thu hồi đất số 6952/QĐ-UBND thu hồi của ông Hoàng Văn C diện tích đất là 9.890,9 m² thuộc thửa đất số 190, tờ bản đồ số 43 thuộc xã L huyện T, tỉnh Đồng Nai để thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020, đoạn qua địa bàn huyện T, Đồng Nai.
Cũng ngày 27/12/2019, UBND huyện T đã ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960/QĐ- UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn huyện T (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960”). Nội dung Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 xác định tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông C là 5.125.410.808 đồng. Hiện nay, gia đình ông C chưa nhận được bản chính Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 mà chỉ nhận được bản photocopy có dấu treo của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T.
Ngày 13/07/2022, UBND huyện T ban hành quyết định hành chính số: 2499/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn huyện T (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499”). Nội dung Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499 đã hỗ trợ, bổ sung cho ông Hoàng Văn C số tiền 548.944.950 đồng. Tiền hỗ trợ bổ sung được liệt kê bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung ngày 15/06/2022 đính kèm quyết định. Tại đây, các mục hỗ trợ gồm: hỗ trợ vị trí tiếp giáp đường gom cao tốc và hỗ trợ về việc chuyển đổi nghề nghiệp. Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499 là một quyết định hành chính sửa đổi, bổ sung Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960.
Lý do khởi kiện các quyết định của UBND huyện T do có sai phạm, cụ thể đối với Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960:
Quyết định này vi phạm trong việc áp dụng sai vị trí đất bồi thường và đơn giá đất tính tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp:
Ngày 18/10/2019, Trung Tâm Phát triển Quỹ Đất huyện T mới chính thức giao Thông báo thu hồi đất cho các hộ dân tại Hội trường UBND xã Lộ 25. Vì vậy, ngày 18/10/2019, gia đình ông C mới chính thức nhận được Thông báo thu hồi đất số: 760/TB-UBND đề ngày 10/10/2019 của UBND huyện T. Theo nội dung thông báo này, gia đình ông C bị thu hồi diện tích đất 9.890,9 m² theo thửa đất 190, tờ bản đồ số 43, bản đồ địa chỉnh Xã L, loại đất là: Đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm.
Ngày 27/12/2019, UBND huyện T đã ban hành quyết định thu hồi đất và áp giá bồi thường là trái quy định tại Khoản 1, Điều 67 Luật đất đai thì thời hạn thông báo thu hồi đất được quy định như sau: “1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm”.
Do UBND huyện T thu hồi đất trái luật (thu hồi trước hạn luật định), nên Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 ban hành ngày 27/12/2019 cũng là áp dụng không đúng thời điểm (sớm hơn thời hạn luật định) gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C như sau:
Ngày 31/12/2019, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND về việc ban hành bảng giá đất tỉnh Đồng Nai 5 năm, giai đoạn 2020-2024 (có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2020). Quyết định này thay thế hoàn toàn Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 đối với giá đất trước đó. Để tính tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của ông C. Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND có lợi cho ông C trong việc xác định vị trí đất bị thu hồi và đơn giá tính tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, cụ thể như sau:
Về vị trí đất tính tiền bồi thường, hỗ trợ: Theo Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ kèm theo Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 đã áp vị trí 4 là không đúng, bởi vì:
Quyền sử dụng đất bị thu hồi của ông C thuộc thửa đất 190, tờ bản đồ số 43, bản đồ địa chỉnh Xã L 25 là thửa đất mặt tiền tiếp giáp trực tiếp với đường gom dân sinh của Cao tốc Long Thành D, bề rộng mặt đường này là 8 mét và từ thửa đất của ông C bị thu hồi đến trục đường giao thông chính là Lộ 25 - Sông N có khoảng cách khoảng 350m. Theo quy định cách tính vị trí đất nông nghiệp tại nông thôn được quy định tại Khoản 2 Điều 6 và Khoản 2, Điều 7 của Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh Đ thì toàn bộ phần đất nông nghiệp bị thu hồi của ông C thuộc vị trí 2 vì có bề rộng đường trước đất lớn hơn 5m và khoảng cách từ thửa đất đến đường giao thông chính nhỏ hơn 500m. Nhưng Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 của UBND huyện T áp giá bồi thường, hỗ trợ cho ông C vị trí 4 là không đúng, gây thiệt hại cho ông C vì vị trí 2 có đơn giá đất là: 130.000đồng/m², trong khi vị trí 4 có đơn giá chỉ là 100.000 đồng/m² (Mục VIII, Phụ lục 2 đơn giá đất nông nghiệp kèm theo Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND) là sai và gây thiệt hại cho Ông C.
Đơn giá tính tiền bồi thường và hỗ trợ: Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ kèm theo Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 cho thấy: UBND huyện T áp đơn giá hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho ông C với đơn giá: 45.000đồng/m² là không đúng.
Nếu làm đúng thì UBND huyện T sẽ phải bồi thường, hỗ trợ cho ông C theo chính sách giá năm 2020 theo Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh Đ thì khu vực đất của Ông C vị trí 2 có giá là 130.000 đồng/m², chứ không còn là 45.000 đồng/m² theo giá năm 2019 (Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014).
+ Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 sai vì không bồi thường đơn giá đất ở: Năm 1993, ông C nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người dân tại địa phương. Trong năm 1993, gia đình ông C làm nhà lá để sinh sống tại các khu đất nhận chuyển nhượng để trực tiếp canh tác nông nghiệp.
Năm 1997, ông C được UBND huyện L (Nay là UBND huyện T) cấp các giấy chứng nhận gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 934/QSDĐ ngày 19/06/1997; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 621/QSDĐ ngày 02/05/1997 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 756/QSDĐ ngày 19/06/1997. Các quyền sử dụng đất này gồm các thửa đất lần lượt như: Thửa đất 39, tờ bản đồ 2B- diện tích: 5.914 m²; Thửa đất số 40, tờ bản đồ 2B, diện tích: 2338 m² và Thửa đất số 108, Tờ bản đồ 8C, diện tích: 4.077 m². Các thửa đất này hiện nay là Thửa đất số 190, tờ bản đồ số 43, thuộc xã L huyện T với tổng diện tích sau khi đo đạc lại là: 9890,9 m².
Năm 1999, ông Hoàng Văn C xây dựng nhà ở kiên cố với kết cấu tường xây tô, sơn nước, mái tôn diện tích ngang 10,5 m dài 12m, loại nhà: C4H2 để ở. Trên phần đất bị thu hồi có cả nhà ở và nhiều ao hồ, công trình phục vụ sinh hoạt và canh tác, được xây dựng từ năm 1999 nên phần đất bị thu hồi của ông C phải được xác định có 300m² đất ở, với những căn cứ sau:
Căn cứ Giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà, vật kiến trúc do UBND xã L 25 lập ngày 21/11/2019 có xác nhận của Phòng Kinh tế Hạ tầng huyện T và Phòng Tài nguyên và môi trường huyện T thể hiện: Trên đất thu hồi có nhà ở C4H2 xây dựng năm 1999 và một số tài sản vật kiến trúc khác được xây dựng trước ngày 01/07/2004. Nội dung xác nhận này còn thể hiện: Xác nhận hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở định cư;
Thông báo thu hồi đất số 760//TB-UBND do UBND huyện T lập ngày 10/10/2019 thể hiện: Thu hồi đất của ông Hoàng Văn C và bà Đặng Thị Y diện tích đất khoảng 9890,9 m², loại đất đang sử dụng là: Đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm (ONT +CLN).
Hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ lập ngày 04/09/2019 dùng làm cơ sở thu hồi đất thể hiện mục đích sử dụng đất tại thửa 190, tờ bản đồ số 43 của ông C là: ONT và CLN;
Năm 2011, toàn bộ khu vực nhà đất của ông C thuộc quy hoạch khu dân cư nên UBND huyện T có chủ trương kêu gọi người dân đăng ký về việc xác nhận diện tích đất ở. Hộ ông C đã thực hiện đăng ký hạn mức đất ở 300 m² tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện T vào năm 2011 hiện nay còn giữ biên lai đăng ký nhưng chưa hoàn tất thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Mặc dù trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C do UBND huyện L được cấp từ năm 1997 là đất nông nghiệp (đất lúa và đất màu) nhưng trên thực tế sử dụng gia đình ông C đã chuyển đổi sang mục đích đất trồng cây lâu năm và đất ở. Quá trình ông C xây dựng nhà để ở, ao hồ và nhiều công trình xây dựng khác phù hợp quy hoạch tại thời điểm đó và không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính. Năm 2011, Ông C đã đăng ký về việc xác định lại diện tích đất ở có biên lai đăng ký nhưng chưa thực hiện các thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận để được cơ quan quản lý đất đai ghi nhận đối với phần diện tích đất ở theo hạn mức 300 m² đất ở/hộ dân như các hộ gia đình xung quanh như hộ ông Thân Trọng K. Tuy nhiên, trên bản đồ địa chính tại xã L 25 điều ghi nhận đất của ông C có phần đất ở.
Theo quy định tại điểm b, Khoản 5, Điều 24 Nghị định chính phủ số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai 2013 có quy định: “5. Diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 được xác định như sau: b) Trường hợp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây mà người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này nhưng diện tích đất ở chưa được xác định theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật Đất đai, Khoản 3 Điều này và chưa được xác định lại theo quy định tại Điểm b và Đ1 c Khoản 1 Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003, nay người sử dụng đất có đơn đề nghị xác định lại diện tích đất ở hoặc khi Nhà nước thu hồi đất thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật Đất đai và Khoản 3 Điều này; hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất, được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với diện tích đã được xác định lại là đất ở”.
Khoản 4 Điều 103 Luật đất đai có quy định: “4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;
b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;
c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất”.
Hạn mức công nhận đất ở của một hộ dân ở Đồng Nai là 300 m². Do đó, trong trường hợp này, UBND huyện T phải xác nhận lại phần diện tích đất ở của hộ ông C là 300m² để bồi thường theo giá đất ở và 9.590,9 m² còn lại là bồi thường theo đất nông nghiệp mới đúng quy định của pháp luật.
Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 chỉ bồi thường cho ông C theo đất nông nghiệp, không bồi thường cho ông C 300 m² theo giá đất ở là trái quy định tại Điều 103 Luật đất đai và Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014.
- Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung
Ngày 21/02/2022, UBND tỉnh Đ ban hành văn bản số 1729//UBND-KTNS về việc xử lý vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ theo đó: Mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp tăng thêm 0,5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại theo Bảng giá đất của UBND tỉnh và tăng tiền bồi thường, hỗ trợ cho những thửa đất tiếp giáp đường gom dân sinh.
Ngày 13/07/2022, UBND huyện T ban hành quyết định hành chính số: 2499/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn huyện T (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499”). Nội dung Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499 đã hỗ trợ, bổ sung cho ông Hoàng Văn C số tiền 548.944.950 đồng. Tiền hỗ trợ bổ sung được liệt kê bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung ngày 15/06/2022 đính kèm quyết định. Tại đây, các mục hỗ trợ bổ sung tổng cộng là: 548.944.950 đồng. Trong đó gồm: bồi thường bổ sung về đất đối với vị trí đất tiếp giáp đường gom cao tốc là: 326.399.700 đồng và hỗ trợ bổ sung về việc chuyển đổi nghề nghiệp thêm 0,5 lần với số tiền là: 222.545.250 đồng.
Lý do ông C yêu cầu hủy Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499 như sau:
Thứ nhất, về bản chất Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499 là quyết định hành chính sửa đổi, bổ sung Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 nên khi Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960 sai thuộc trường hợp phải hủy bỏ thì Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499 cũng phải hủy theo.
Thứ hai, Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499 chưa khắc phục hết các thiệt hại đối với hộ ông C, cụ thể như sau:
Đối với khoản tiền bổ sung tiền bồi thường về đất với số tiền: 326.399.700 đồng thể hiện tại mục I Bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung lập ngày 15/06/2022 đính kèm Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499, đây là khoản bổ sung cho khoản tiền bồi thường về đất tại Mục I của Bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ đính kèm theo Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960. Khoản bổ sung này xuất phát từ việc định giá lại đơn giá cụ thể khi thu hồi đất của Công ty Cổ phần T4. Theo chứng thư định giá của Công ty này thì đơn giá bồi thường về đất là 368.000 đồng/m² cao hơn 33.000 đồng/m² so với đơn giá cụ thể để bồi thường đất tại: Quyết định số 3959/QĐ-UBND ngày 05/12/2019 của UBND tỉnh Đ (đơn giá cụ thể bồi thường là 335.000 đồng/m²). Việc định giá lại và tăng đơn giá bồi thường cụ thể là điều đáng ghi nhận, nhưng phần bồi thường bổ sung vẫn xác định không đúng vị trí đất của ông C là vị trí 2 chứ không phải là vị trí 4.
Đối với khoản bổ sung về chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp do tăng thêm 0,5 lần với số tiền 222.545.250 đồng tại mục II Bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung lập ngày 15/06/2022 đính kèm Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499. Tại Bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung đính kèm quyết định này cho thấy đơn giá đất UBND huyện T áp dụng là 45.000 đồng/m² (đơn giá cũ từ năm 2019) là không phù hợp.
Trong trường hợp này, tổng số tiền hỗ trợ của ông C nếu tính đúng phải là: (9.590,9 m2 x 130.000 đồng/m² x 2) = 2.493.634.000 đồng. Trong đó 9.590,9 m² đất nông nghiệp là phần diện tích đất nông nghiệp sau khi đã trừ đi 300 m² đất ở được bồi thường theo giá đất ở; đơn giá 130.000 đồng/m² là đơn giá đất nông nghiệp tại vị trí 2 theo Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh Đ.
Như vậy, sau khi ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499, tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp của ông C vẫn thiệt hại được xác định theo công thức: Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp nếu tính đúng luật – (tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp theo quyết định ban đầu + tiền hỗ trợ theo quyết định bổ sung) = 2.493.634.000 đồng – (667.635.750 đồng + 222.545.250 đồng) = 1.603.453.000 đồng.
Vì vậy ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy các quyết định bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất:
- Quyết định số 6960/QĐ-UBND, ngày 27/12/2019 của UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai “Về việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2020 đoạn qua địa bàn huyện T”;
- Quyết định số 2499/QĐ-UBND, ngày 13/7/2022 của UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai “Về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2020 đoạn qua địa bàn huyện T”;
* Tại các văn bản trình bày ý kiến của Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:
Căn cứ pháp lý để ban hành Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019; Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND huyện T:
Dự án cao tốc P - D được xác định là dự án trọng điểm Quốc gia, UBND tỉnh Đ đã nhiều lần dự họp với Bộ G (chủ trì) về triển khai và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án và chủ trì tổ chức họp làm việc với Ban chỉ đạo công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D và ban hành Thông báo số 12094/TB-UBND ngày 21/10/2019 chỉ đạo, giao UBND huyện T chỉ đạo các đơn vị liên quan của huyện tập trung thực hiện kiểm đếm, xác nhận hồ sơ pháp lý bồi thường, hỗ trợ, trình phê duyệt và chi trả tiền bồi thường trước ngày 31/12/2019.
Dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 52/2017/QH14 ngày 22/11/2017, được Chính phủ thông qua việc triển khai dự án tại Nghị quyết số 20/NQ-CP ngày 28/3/2018 và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Văn bản số 881/TTg-CN ngày 12/7/2018; Bộ G phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thành phần tại Quyết định 2229/QĐ-BGTVT ngày 17/10/2018.
Thực hiện dự án, ngày 27/12/2019, UBND huyện T đã ban hành Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND ngày 10/10/2019 về việc thu hồi diện tích 9890,8m² đất của ông Hoàng Văn C đang quản lý, sử dụng, đã được UBND huyện L cấp giấy CNQSDĐ số K 286026 ngày 19/6/1997, số K 303848 ngày 02/5/1997, K 283156 ngày 19/6/1997. Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T đã phối hợp tiến hành kiểm đếm đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất của 65/65 hộ dân (trong đó có trường hợp đất của ông Hoàng Văn C thực hiện kiểm đếm vào ngày 14/7/2016 và ngày 22/10/2019); lập Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tiến hành công bố công khai, lấy ý kiến và niêm yết công khai tại UBND xã Lộ 25, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất bị thu hồi thực hiện dự án.
Căn cứ Luật đất đai 2013, tại Điều 63 quy định về căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Điều 67 quy định về thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Điều 69 quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. UBND huyện T ban hành Quyết định số 6952/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 9890,9m² đất (gồm: 7552,9m² đất trồng lúa, 2338m² đất trồng cây hàng năm) thuộc thửa số 190, tờ bản đồ địa chính số 43 xã L 25 của ông Hoàng Văn C; đồng thời ban hành Quyết định số 6960/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho Hoàng Văn C, với số tiền bồi thường, hỗ trợ là 5.125.410.808 đồng, cụ thể: bồi thường, hỗ trợ về đất 3.313.451.500 đồng; bồi thường, hỗ trợ nhà ở, vật kiến trúc 712.778.558 đồng; bồi thường cây trồng 286.225.000 đồng; các chính sách hỗ trợ 800.955.750 đồng; thưởng di dời 12.000.000 đồng.
+ Về việc xác định loại đất, vị trí đất: Căn cứ Quyết định 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đ về việc ban hành quy định về giá các loại đất tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2015-2019; Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND tỉnh Đ về việc điều chỉnh, bổ sung giá các loại đất tỉnh Đồng Nai 5 năm giai đoạn 2015-2019. UBND huyện T đã thực hiện bồi thường cho ông Hoàng Văn C đất nông nghiệp vị trí 4 tại thửa đất số 190 tờ bản đồ số 43, bản đồ địa chính xã lộ 25, loại đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm là đúng theo quy định.
+ Về áp giá tính bồi thường: Căn cứ khoản 2, Điều 74, Luật Đất đai 2013, quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”; Căn cứ khoản 3 và điểm đ, khoản 4, Điều 114, Luật Đất đai 2013, UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Ngày 05/12/2019, UBND tỉnh Đ hanh hành Quyết định số 3959/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía đông giai đoạn 2017 – 2020, đoạn qua huyện T. Trong đó phê duyệt mức giá đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm, cây hàng năm,...) tại xã L 25 xác định: Vị trí 4 là 335.000 đồng/m2.
Ngày 27/12/2019 UBND huyện T ban hành Quyết định thu hồi đất số 6952/QĐ-UBND và Quyết định số 6969/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Hoàng Văn C địa chỉ: ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai thuộc dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2020 đoạn đi qua địa bàn huyện T với số tiền bồi thường, hỗ trợ là 5.125.410.808 đồng, cụ thể: bồi thường, hỗ trợ về đất 3.313.451.500 đồng; bồi thường, hỗ trợ nhà ở, vật kiến trúc 712.778.558 đồng; bồi thường cây trồng 286.225.000 đồng; các chính sách hỗ trợ 800.955.750 đồng; thưởng di dời 12.000.000 đồng.
UBND huyện T đã thực hiện đền bù về giá đất đúng theo quy định của UBND tỉnh Đ tại Quyết định 3959/QĐ-UBND ngày 05/12/2019.
+ Về các nội dung khác có liên quan: Về việc thông báo thu hồi đất thực hiện dự án: Căn cứ Văn bản số 265/TTg-KTN ngày 28/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt khung chính sách giải phóng mặt bằng và tái định cư; Căn cứ Quyết định số 1495/QĐ-BGTVT ngày 07/7/2011 của Bộ G về việc phê duyệt đầu tư đầu tư xây dựng đường C - D thí điểm theo hình thức đấu tác công tư (PPP);
Ngày 20/06/2016, UBND tỉnh Đ ban hành Thông báo số 5177/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng đường C - D đoạn qua huyện T tỉnh Đồng Nai; kèm theo danh sách các thửa đất bị thu hồi đất để thực hiện dự án Cao tốc P - D (ông Hoàng Văn C số thứ tự 90: Tờ BĐĐC số 43 thửa đất số 190, diện tích trong ranh thu hồi là 9.890,9m² đất tại xã L, huyện T);
Ngày 25/06/2019, UBND tỉnh Đ có Văn bản số 7143/UBND-KT về việc xử lý điều chỉnh tên Tiểu dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Quyết định số 2998/QĐ-UBND ngày 24/8/2018 của UBND tỉnh Đ. Do đó, dự án được đổi tên thành Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến B – Nam phía Đông giao đoạn 2017-2020 (gọi tắt là dự án Cao tốc P - D).
Ngày 27/05/2019, Ban Q thực hiện bàn giao các mốc giải phóng mặt bằng cho Trung tâm phát triển quỹ đất; Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ và UBND xã L 25 để phối hợp thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính khu đất và hồ sơ kỹ thuật các thửa đất phục vụ công tác ban hành Thông báo thu hồi đất, để triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Đến ngày 05/09/2019 đã bàn giao hồ sơ kỹ thuật từng thửa đất cho Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện. Theo đó, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đã thực hiện xong công tác kiểm kê hiện trạng sử dụng đất.
Ngày 02/10/2019, UBND tỉnh Đ ban hành Văn bản số 11331/UBND-KTN về việc hủy bỏ các thông báo thu hồi đất của dự án Cao tốc P - D do ban hành không đúng thẩm quyền
Ngày 10/10/2019, UBND huyện T ban hành Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND ngày 10/10/2019 về việc thu hồi diện tích 9890,8m² đất tại thửa số 190, tờ bản đồ địa chính số 43 xã L 25 của ông Hoàng Văn C để thực hiện dự án Cao tốc P - D.
* Căn cứ pháp lý:
Điều 62, Điều 66, Điều 67, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T5 quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất.
Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định về việc phối hợp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Quyết định số 4688/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của huyện T.
Quyết định số 2536/QĐ-UBND ngày 14/8/2019 của UBND tỉnh Đ về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 164/2019/NQ-HĐND ngày 12/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đ, về việc thống nhất điều chỉnh quy mô, địa điểm thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Thông báo số 12094/TB-UBND ngày 21/10/2019 của Đồng chí Nguyễn Quốc H - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đ tại buổi làm việc với Ban chỉ đạo công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án Cao tốc P - D.
Để thu hồi đất thực hiện dự án, UBND huyện T ban hành Quyết định số 6952/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 9890,9m² đất (gồm: 7552,9m² đất trồng lúa; 2338m² đất trồng cây hàng năm) thuộc thửa số 190, tờ bản đồ địa chính số 43 xã L của ông Hoàng Văn C.
Thông báo kết luận số 12094/TB-UBND ngày 21/10/2019 của UBND tỉnh Đ; Thông báo kết luận số 14089/TB-UBND ngày 05/12/2019 của UBND tỉnh Đ; Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND ngày 10/10/2019 của UBND huyện T; Biên bản kiểm đếm về đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được lập ngày 22/10/2019.
Giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà, vật kiến trúc số 82/GXN-UBND ngày 04/11/2019 của UBND xã L, huyện T; Giấy xác nhận việc sản xuất nông nghiệp số 93/UBND ngày 04/11/2019 của UBND xã L, huyện T; Giấy xác nhận số 04/GXN-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã S, huyện C.
Giấy xác nhận hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm số 742/UBND ngày 21/11/2019 của UBND xã L, huyện T.
Hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 190, tờ bản đồ địa chính số 43 xã L 25 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ lập ngày 04/9/2019.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 286026, K 283156 được UBND huyện L cũ cấp ngày 19/6/1997 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 303848 được UBND huyện L cũ cấp ngày 19/6/1997 02/5/1997.
Bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ do Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T lập ngày 24/12/2019; Phương án số 994/PA-HĐBHT&TĐC ngày 24/12/2019 của Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án. Tờ trình số 995/TTr-HĐBT,HT&TĐC ngày 24/12/2019 của Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án.
Quyết định thu hồi đất số 6952/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T; Quyết định về việc bồi thường hỗ trợ số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 và Quyết định số 6987/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T.
Phiếu chi của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện ngày 18/7/2022.
* Căn cứ pháp lý: Điều 62, Điều 63, Điều 67, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai. Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T5 quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất. Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16/10/2019 của UBND tỉnh Đ, ban hành quy chế phối hợp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Quyết định số 4688/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của huyện T. Quyết định số 2536/ QĐ-UBND ngày 14/8/2019 của UBND tỉnh Đ về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 164/2019/NQ-HĐND ngày 12/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đ, về việc thống nhất điều chỉnh quy mô, địa điểm thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Thông báo số 12094/TB-UBND ngày 21/10/2019 của Đồng chí Nguyễn Quốc H - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đ tại buổi làm việc với Ban chỉ đạo công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án Cao tốc P - D.
Thông báo số 14089/TB-UBND ngày 05/12/2019 của UBND tỉnh, trong đó có nội dung: “ Đối với công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đoạn qua các huyện T, C, thành phố L: Giao UBND các huyện T, C, thành phố L tiếp tục thực hiện theo Thông báo số 12094/TB-UBND ngày 21/10/2019 của UBND tỉnh, chỉ đạo phòng T6, Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện, thành phố khẩn trương lập phương án bồi thường, hỗ trợ trình phê duyệt và chi trả cho các hộ dân trước ngày 25/12/2019”. Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND ngày 10/10/2019 của UBND huyện T về việc thu hồi diện tích 9890,8m² đất tại thửa số 190, tờ bản đồ địa chính số 43 xã L. Biên bản niêm yết công khai, lấy ý kiến đóng góp về phương án bồi thường, hỗ trợ dự án đường C - Dầu Giây đoạn qua huyện T ngày 18/12/2019 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện.
* Về kết quả giải quyết đơn kiến nghị:
Hội đồng bồi thường dự án đã tính toán đầy đủ các khoản bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông Hoàng Văn C nhưng hộ ông Hoàng Văn C chưa đồng ý nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng dự án Cao tốc P – Dầu Giây và nhiều lần có đơn kiến nghị về vị trí đất, về áp dụng giá đất để tính tiền bồ thường, hỗ trợ, về chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm gửi UBND huyện đề nghị xem xét, giải quyết và đã được UBND huyện trả lời đầy đủ, cụ thể:
- Văn bản số 983/UBND-KT ngày 21/02/2020 của UBND huyện T về việc trả lời đơn cho ông Hoàng Văn C (đơn đề ngày 02/01/2020);
- Văn bản số 4472/UBND-KT ngày 12/6/2020 của UBND huyện T về việc trả lời đơn của ông Hoàng Văn C (đơn đề ngày 17/02/2020).
- Văn bản số 819/UBND-TT ngày 01/02/2021 của UBND huyện T về việc trả lời đơn cho ông Hoàng Văn C (đơn đề ngày 18/9/2020).
- Văn bản số 4258/UBND-KT ngày 27/5/2022 của UBND huyện T về trả lời đơn của ông Hoàng Văn C (đơn đề ngày 11/5/2022).
* Về bồi thường, hỗ trợ bổ sung:
Thực hiện Văn bản số 1729/UBND-KTNS ngày 21/02/2022 của UBND tỉnh Đ về việc xử lý vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ dự án Cao tốc P- D.
Căn cứ Quyết định số 1383/QĐ-UBND ngày 30/05/2022 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Cao tốc P - D, Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đã hoàn thiện phương án, tổ chức họp dân ngày 08/06/2022 để công bố công khai, niêm yết phương án bồi thường, hỗ trợ (bổ sung) cho 65 hộ gia đình cá nhân có đất bị thu hồi thuộc dự án (trong đó có hộ ông Hoàng Văn C) và đã được UBND huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung tại Quyết định số 2453/QĐ-UBND ngày 13/7/2022; Quyết định số 2499/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông Hoàng Văn C với tổng số tiền 548.944.950 đồng, cụ thể: Đất trồng cây hàng năm 77.154.000 đồng; Đất trồng lúa: 249.245.700 đồng; Hỗ trợ khác về mức hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bổ sung thêm 0,5 lần là 222.545.250 đồng. (theo Bảng tính toán giá trị Bồi thường, hỗ trợ (bổ sung) do Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T lập ngày 15/6/2022.)
Về nhận tiền bồi thường: Đến ngày 18/7/2022, hộ ông Hoàng Văn C liên hệ Trung tâm phát triển quỹ đất huyện nhận tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư và ông Hoàng Văn C đã nhận đủ số tiền là 5.674.355.758 đồng, (Phiếu chi của Trung tâm phát triển quỹ đất ngày 18/7/2022; ngày 18/7/2022).
Qua rà soát, UBND huyện thống N xác định việc ban hành Quyết định thu hồi đất, quyết định việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, việc ông Hoàng Văn C khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy “Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019; Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND huyện T” là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và giữ nguyên các Quyết định của UBND huyện T đã ban hành.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Y trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của người khởi kiện và yêu cầu khởi kiện của ông C, không có yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, bà T2, ông Đ, ông L, bà N trình bày:
Diện tích đất 9.890,9 m² thuộc thửa đất số 190, tờ bản đồ số 43 thuộc xã L huyện T, tỉnh Đồng Nai là tài sản của ông Hoàng Văn C và bà Đặng Thị Y nên các ông Hoàng Văn T1, bà Hoàng Thị T2, ông Hoàng Văn Đ, ông Hoàng Văn L, bà Vũ Hồng N không có quyền lợi tại các quyền sử dụng đất này và không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T lời trình bày:
Về việc xử lý, giải quyết đơn của ông Hoàng Văn C liên quan đến dự án đường C – Dầu Giây đoạn qua địa bàn huyện T đã được UBND huyện T tiếp nhận và giải quyết đơn theo đúng quy định, cụ thể:
1. Đơn Khiếu nại của ông Hoàng Văn C:
Ban tiếp công dân huyện tiếp nhận đơn khiếu nại của ông Hoàng Văn C, ngụ tại ấp D, xã địa chỉ: ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (đơn đề ngày 02/01/2020). Ngày 07/01/2020, Ban tiếp công dân huyện có Văn bản số 03/BTCD chuyển đơn của công dân đến Thanh tra huyện để tham mưu UBND huyện giải quyết khiếu nại của công dân theo quy định.
Ngày 14/01/2020, UBND huyện nhận được Báo cáo số 07/BC-TT về kết quả xử lý nội dung đơn của công dân, nội dung thể hiện: Qua rà soát, xử lý các nội dung đơn và thông tin, tài liệu kèm theo thể hiện: Đơn có chữ ký của người làm đơn, đơn đề ngày 02/01/2020, tiêu đề là đơn khiếu nại; nội dung đơn: ông Hoàng Văn C đồng ý với việc thu hồi đất để thực hiện dự án; đề nghị UBND huyện xem xét lại việc xác định vị trí đất và áp dụng bảng giá đất mới để tính toán bồi thường, hỗ trợ. Thanh tra huyện kiến nghị Chủ tịch UBND huyện chuyển đơn đến Trung tâm phát triển quỹ đất huyện tham mưu UBND huyện giải quyết theo quy định.
Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.” và nội dung Báo cáo số 07/BC-TT ngày 14/01/2020 của Thanh tra huyện, UBND huyện xét thấy trong đơn khiếu nại của ông Hoàng Văn C có ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại nhưng không thể hiện tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; mặt khác nội dung đơn là đề nghị UBND huyện xem xét lại việc xác định vị trí đất và áp dụng bảng giá đất mới để tính toán bồi thường, hỗ trợ, không khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước do đó không thể giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại. Ngày 21/02/2020, UBND huyện đã có Văn bản số 983/UBND-KT thông tin đến ông Hoàng Văn C về việc xem xét lại việc xác định vị trí đất và áp dụng bảng giá đất mới để tính toán bồi thường, hỗ trợ để ông Hoàng Văn C được biết.
2. Đơn kiến nghị của ông Hoàng Văn C:
Hội đồng bồi thường dự án đã tính toán đầy đủ các khoản bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông Hoàng Văn C nhưng hộ ông C chưa đồng ý nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng dự án Cao tốc P – Dầu Giây và nhiều lần có đơn kiến nghị về vị trí đất, về áp dụng giá đất để tính tiền bồ thường, hỗ trợ, về chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm gửi UBND huyện đề nghị xem xét, giải quyết và đã được UBND huyện trả lời đầy đủ. Cụ thể:
2.1. Đơn đề nghị đề ngày 17/02/2020:
- Nội dung đơn kiến nghị: Đề nghị xác định lại diện tích đất ở tại thửa đất số 190 tờ bản đồ địa chính số 43 xã L.
- Kết quả giải quyết: Chủ tịch UBND huyện T đã có Văn bản số 4472/UBND-KT ngày 12/6/2020 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Hoàng Văn C, nội dung thể hiện: Việc xác định loại đất để lập thủ tục bồi thường cho gia đình ông Hoàng Văn C thuộc dự án đường C - D đoạn đi qua địa bàn huyện T đã được cơ quan có thẩm quyền xác định là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, UBND huyện không có cơ sở để xem xét giải quyết đối với nội dung đơn đề nghị xác định lại diện tích đất ở tại thửa đất nêu trên của ông Hoàng Văn C.
2.2. Đơn đề nghị đề ngày 18/9/2020:
Nội dung đơn đề nghị: đề nghị xác định lại vị trí đất của gia đình ông; đất thuộc loại đất ONT+CLN nhưng Hội đồng bồi thường định lại giá bồi thường theo đất BHK và L1; Từ ngày 01/01/2020 bảng giá đất tại huyện T, tỉnh Đồng Nai tăng từ 2,5 – 3 lần, nhưng theo Quyết định bồi thường của UBND huyện T là bồi thường và tính giá trị bồi thường trong năm 2019, đề nghị bồi thường và hỗ trợ thêm giá đất giai đoạn 2020-2024; Chế độ hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với gia đình chưa đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và các Nghị định của Chính phủ; Các chính sách hỗ trợ bồi thường chưa được thống nhất nhưng gia đình ông bị buộc phải nhận đất tái định cư, nếu chậm nộp phải chịu mức phạt cao; Đề nghị được bồi thường 300m² đất ở nông thôn như các hộ liền kề và được bố trí tái định cư.
Kết quả giải quyết: Chủ tịch UBND huyện T đã có Văn bản số 819/UBND-KT ngày 01/02/2021 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Hoàng Văn C, nội dung thể hiện: Đối với nội dung đề nghị xác định lại vị trí đất và giá đất bồi thường, hỗ trợ: UBND huyện T đã trả lời ông tại Văn bản số 983/UBND-KT ngày 21/02/2020. Loại đất bồi thường, hỗ trợ: UBND huyện đã trả lời ông tại Văn bản số 4472/UBND-KT ngày 12/6/2020. Về chế độ hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với gia đình đã được Hôi đồng bồi thường dự án tính toán hỗ trợ đúng quy định pháp luật, cụ thể:
Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho hộ ông Hoàng Văn C (áp dụng theo điểm c khoản 1 Điều 14 Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh): Cách tính: nhân khẩu x 360.000 đồng x 24 tháng = 13 nhân khẩu x 360.000 đồng x 24 tháng = 112.320.000 đồng.
Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm (áp dụng theo điểm a khoản 1 Điều 15 Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh): Cách tính: diện tích (m²) x đơn giá (đồng/m²) x 1,5 (lần) = 9.890,9m² x 45.000 đồng/m² x 1,5 lần= 667.635.750 đồng.
Bồi hường chi phí di chuyển (áp dụng theo điểm a khoản 1 Điều 13 Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh): 6.000.000 đồng/hộ.
Hỗ trợ tiền thuê nhà ở (áp dụng theo quy định tại Điều 28 Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh): Cách tính: 3.000.000 đồng/hộ x 5 tháng = 3.000.000 đồng x 5 tháng = 15.000.000 đồng.
2.3. Đơn đề nghị đề ngày 11/5/2022:
Nội dung đơn đề nghị: đề nghị UBND huyện T có văn bản chính thức xác nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ tăng thêm mà gia đình tôi được nhận.
Kết quả giải quyết: Chủ tịch UBND huyện T đã có Văn bản số 4258/UBND-KT ngày 27/5/2022 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Hoàng Văn C, nội dung thể hiện: Hội đồng bồi thường dự án đã tính toán các chính sách bồi thường, hỗ trợ được UBND tỉnh Đ chấp thuận tại Văn bản số 1729/UBND-KTNS ngày 21/02/2022 cho ông Hoàng Văn C với tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ (bổ sung) là 548.944.950 đồng. Sau khi có Quyết định phê duyệt giá đất (bổ sung) của UBND tỉnh Đ, Hội đồng bồi thường dự án sẽ công bố công khai phương án bồi thường, hỗ trợ (bổ sung), trình thẩm định, phê duyệt và chi trả cho các hộ dân theo quy định.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 92/2023/HC-ST ngày 29 tháng 09 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – N phía Đông giai đoạn 2017-2020 đoạn qua địa bàn huyện T và Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – N phía Đông giai đoạn 2017-2020 đoạn qua địa bàn huyện T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/9/2023 và ngày 05/10/2023, ông Hoàng Văn C và bà Đặng Thị Y có đơn kháng cáo đối với bản án hành chính sơ thẩm nêu trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án hành chính nêu trên theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Trần Văn T (đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Hoàng Văn C) trình bày ông C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông C gồm: Hủy Quyết định về việc bồi thường, hỗ trợ số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 và Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 cùng của Ủy ban nhân dân huyện T do thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – N phía Đông giai đoạn 2017-2020 đoạn qua địa bàn huyện T (gọi tắt là dự án Cao tốc P - D); Với các lý do:
Thứ nhất, UBND huyện T vi phạm thời hạn báo trước khi thu hồi đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai thì ngày 10/10/2019, UBND huyện T ban hành thông báo thu hồi đất thì đến ngày 10/01/2020, UBND huyện T mới được ban hành quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ về đất. Tuy nhiên, ngày 27/12/2019, UBND huyện T đã ban hành quyết định thu hồi đất của hộ ông C là cố tình né tránh các quy định về bồi thường hỗ trợ có lợi vì theo Quyết định số 49/QĐ-UBND thì đơn giá đất được bồi thường cao hơn gấp 03 lần so với Quyết định 64/QĐ-UBND được ban hành trước đó và cách xác định vị trí đất cũng có lợi hơn cho người bị thu hồi đất. Hành vi nêu trên của UBND huyện T vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai theo quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 97 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/02/2014.
Thứ hai, Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T không bồi thường cho ông C theo đơn giá đất ở đối với diện tích 300m² trong tổng số diện tích 9890,9m² đất bị thu hồi là trái với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 79 của Luật Đất đai. Mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện L cấp cho hộ ông C năm 1997 là đất nông nghiệp nhưng thực tế gia đình ông C đã chuyển đổi sang mục đích đất trồng cây lâu năm và đất ở từ năm 1999. Việc ông C xây dựng nhà ở và các công trình xây dựng khác trên đất là phù hợp với quy hoạch và không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Năm 2011, ông C đã đăng ký để được xác định lại diện tích đất ở, có biên lai đăng ký nhưng chưa thực hiện các thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như các hộ xung quanh. Ngoài ra, tại Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND ngày 10/10/2019 của UBND huyện T cũng thể hiện: Thu hồi đất của ông Hoàng Văn C và bà Đặng Thị Y diện tích đất khoảng 9890,9m², loại đất đang sử dụng là: Đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm. Mặt khác, tại Giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà vật kiến trúc lập ngày 21/11/2019 của Phòng Kinh tế Hạ tầng huyện T và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T cũng xác nhận quá trình sử dụng đất và sử dụng nhà của ông C.
Thứ ba, đối với Quyết định hành chính số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất bản chất là quyết định hành chính sửa đổi, bổ sung của Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6960/QĐ-UBND nên cần phải hủy bỏ cả hai quyết định hành chính này. Mặt khác, Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 2499/QĐ-UBND cũng chưa khắc phục được hết các sai sót trong việc bồi thường, hỗ trợ không đúng mục đích sử dụng đất, xác định sai vị trí đất bị thu hồi dẫn đến đơn giá chuyển đổi nghề nghiệp không đúng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của hộ ông C. Ngoài ra, về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho hộ ông C cũng không thể hiện sự công bằng giữa các địa phương trong cùng Dự án này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính về phiên tòa phúc thẩm. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, xét kháng cáo của người khởi kiện ông Hoàng Văn C yêu cầu hủy các Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019, Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai “Về việc bồi thường, hỗ trợ và bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện dự án Cao tốc Phan T3 - D” là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của người khởi kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận: Toàn bộ diễn biến vụ án như phần tóm tắt nội dung đã được viện dẫn ở trên. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Hoàng Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Y, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T1, chị Hoàng Thị T2, anh Hoàng Văn L, anh Hoàng Văn Đ và chị Vũ Hồng N, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án tiến hành phiên toà phúc thẩm xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
[1.2] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất và Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện dự án Cao tốc P - D là các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Ngày 03/11/2022, ông Hoàng Văn C khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính nêu trên là còn thời hiệu và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Mặc dù ông Hoàng Văn C không khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định giải quyết khiếu nại (dưới dạng các văn bản trả lời) của UBND huyện T bao gồm: Văn bản số 983/UBND-KT ngày 21/02/2020 về việc trả lời đơn đề ngày 02/01/2020 của ông C; Văn bản số 4472/UBND-KT ngày 12/6/2020 về việc trả lời đơn đề ngày 17/02/2020 của ông C; Văn bản số 819/UBND-TT ngày 01/02/2021 về việc trả lời đơn đề ngày 18/9/2020 của ông C; Văn bản số 4258/UBND-KT ngày 27/5/2022 về trả lời đơn đề ngày 11/5/2022 của ông C. Tuy nhiên, Tòa án vẫn xem xét tính hợp pháp của các văn bản này vì có liên quan đến quyết định hành chính bị khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Ông Hoàng Văn C không khiếu nại về chủ trương và quyết định thu hồi đất mà chỉ không đồng ý về các vấn đề liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất như vị trí đất, việc áp giá bồi thường, mục đích sử dụng đối với phần đất bị thu hồi. Do đó, Tòa án chỉ xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định bồi thường, hỗ trợ; bồi thường, hỗ trợ bổ sung và các quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện:
Dự án cao tốc P - D là dự án trọng điểm Quốc gia, được ưu tiên triển khai và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án. Dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 52/2017/QH14 ngày 22/11/2017, được Chính phủ thông qua việc triển khai dự án tại Nghị quyết số 20/NQ-CP ngày 28/3/2018 và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Văn bản số 881/TTg-CN ngày 12/7/2018; Bộ G phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thành phần tại Quyết định 2229/QĐ-BGTVT ngày 17/10/2018.
Do đó, UBND tỉnh Đ chủ trì tổ chức họp làm việc với Ban chỉ đạo công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D và ban hành Thông báo số 12094/TB-UBND ngày 21/10/2019 chỉ đạo, giao UBND huyện T chỉ đạo các đơn vị liên quan của huyện tập trung thực hiện kiểm đếm, xác nhận hồ sơ pháp lý bởi thường, hỗ trợ, trình phê duyệt và chi trả tiền bồi thường trước ngày 31/12/2019.
Thực hiện dự án, ngày 10/10/2019, UBND huyện T đã ban hành Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND về việc thu hồi diện tích 9890,8m² đất của hộ ông Hoàng Văn C đang quản lý, sử dụng, đã được UBND huyện L cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 286026 ngày 19/6/1997, số K 303848 ngày 02/5/1997, K 283156 ngày 19/6/1997 (gồm: 7552,9m² đất trồng lúa và 2338m² đất trồng cây hàng năm). Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T đã phối hợp tiến hành kiểm đếm đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất của 65/65 hộ dân (trong đó có trường hợp đất của ông Hoàng Văn C thực hiện kiểm đếm vào ngày 14/7/2016 và ngày 22/10/2019); lập Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tiến hành công bố công khai, lấy ý kiến và niêm yết công khai tại UBND xã Lộ 25, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất bị thu hồi thực hiện dự án.
Trên cơ sở đó, ngày 27/12/2019, UBND huyện T ban hành Quyết định số 6952/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 9.890,9m đất (gồm 7.552,9m đất trồng lúa và 2.338m đất trồng cây hàng năm) thuộc thửa số 190, tờ bản đồ địa chính số 43 xã L 25 của ông Hoàng Văn C; đồng thời, ban hành Quyết định số 6960/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Hoàng Văn C, với số tiền bồi thường, hỗ trợ là 5.125.410.808 đồng, cụ thể: bồi thường, hỗ trợ về đất 3.313.451.500 đồng; bồi thường, hỗ trợ nhà ở, vật kiến trúc 712.778.558 đồng; bồi thường cây trồng 286.225.000 đồng; các chính sách hỗ trợ khác 800.955.750 đồng; thưởng di dời 12.000.000 đồng là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62, Điều 63, điểm a khoản 2 Điều 66, Điều 67 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
Không đồng ý với các quyết định bồi thường và bồi thường, hỗ trợ bổ sung, ông Hoàng Văn C có nhiều đơn khiếu nại. Tuy nhiên, các đơn khiếu nại của ông Hoàng Văn C có ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại nhưng không thể hiện tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung đơn là đề nghị U lại việc xác định vị trí đất và áp dụng bảng giá đất mới để tính toán bồi thường, hỗ trợ, không khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước. Do đó, Chủ tịch UBND huyện T căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 và Báo cáo số 07/BC-TT ngày 14/01/2020 của Thanh tra huyện T để ban hành các văn bản trả lời là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định.
[2.2] Về nội dung: Xét các yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện.
[2.2.1] Về việc vi phạm thời hạn thông báo thu hồi đất:
Căn cứ Văn bản số 265/TTg-KTN ngày 28/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt khung chính sách giải phóng mặt bằng và tái định cư; Căn cứ Quyết định số 1495/QĐ-BGTVT ngày 07/7/2011 của Bộ G về việc phê duyệt đầu tư đầu tư xây dựng đường C - D thí điểm theo hình thức đấu tác công tư (PPP);
Ngày 20/6/2016, UBND tỉnh Đ ban hành Thông báo số 5177/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng đường C - D đoạn qua huyện T tỉnh Đồng Nai; kèm theo danh sách các thửa đất bị thu hồi đất để thực hiện dự án Cao tốc P - D (ông Hoàng Văn C số thứ tự 90; Tờ bản đồ địa chính số 43 thửa đất số 190, diện tích trong ranh thu hồi là 9.890,9m² đất tại xã L, huyện T).
Ngày 25/6/2019, UBND tỉnh Đ có Văn bản số 7143/UBND-KT về việc xử lý điều chỉnh tên Tiểu dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Quyết định số 2998/QĐ-UBND ngày 24/8/2018 của UBND tỉnh Đ. Do đó, dự án được đổi tên thành Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến B – Nam phía Đông giao đoạn 2017-2020 (gọi tắt là dự án Cao tốc P - D).
Ngày 27/5/2019, Ban Q thực hiện bàn giao các mốc giải phóng mặt bằng cho Trung tâm phát triển quỹ đất; Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ và UBND xã L 25 để phối hợp thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính khu đất và hồ sơ kỹ thuật các thửa đất phục vụ công tác ban hành Thông báo thu hồi đất, để triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Đến ngày 05/9/2019, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đã bàn giao hồ sơ kỹ thuật từng thửa đất cho Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện. Theo đó, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đã thực hiện xong công tác kiểm kê hiện trạng sử dụng đất.
Ngày 02/10/2019, UBND tỉnh Đ ban hành Văn bản số 11331/UBND-KTN về việc hủy bỏ các thông báo thu hồi đất của dự án Cao tốc P - D do ban hành không đúng về thẩm quyền. Ngày 10/10/2019, UBND huyện T ban hành Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND về việc thu hồi diện tích 9.890,8m² đất tại thửa số 190, tờ bản đồ địa chính số 43 xã L 25 của ông Hoàng Văn C để thực hiện dự án Cao tốc P - D.
Như vậy, từ năm 2016, ông C đã được thông báo về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Cao tốc P - D. Ngày 10/10/2019, UBND huyện T ban hành Thông báo thu hồi đất số 760/TB-UBND chỉ để nhắc lại việc thu hồi đất của hộ ông C. Do đó, ông C cho rằng UBND huyện T vi phạm về thời hạn báo trước khi thu hồi đất là không đúng.
[2.2.2] Về vị trí đất bị thu hồi
Ông Hoàng Văn C khiếu nại cho rằng, diện tích đất bị thu hồi của ông phải được áp giá đất ở vị trí 2 chứ không phải ở vị trí 4.
Căn cứ Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đ về việc ban hành quy định về giá các loại đất tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2015-2019 (được điều chỉnh, bổ sung tại Quyết định số 46/2017/QĐ-UBND ngày 22/12/2017 của UBND tỉnh) tại điểm b khoản 2 Điều 6 (phân vị trí đất nông nghiệp): “Vị trí 3, bao gồm:... Thửa đất mặt tiền các đường giao thông chính còn lại (ngoài các đường nhóm 1 nhóm 2 quy định tại phụ lục I của Quy định này) và các hẻm có bề rộng từ 5 mét trở lên trong phạm vi 200 mét tính từ mốc lộ giới của hẻm. Vị trí 4: Các thửa đất và phần thửa đất còn lại” và khoản 4 Điều 12 quy định nguyên tắc xác định vị trí, áp dụng giá đất đối với các trường hợp cự thể: “Đối với những thửa đất mặt tiền hẻm có bề rộng khác nhau (chỗ rộng, chỗ hẹp) thì áp dụng theo chỗ hẹp nhất tính từ đường phố (hoặc đường giao thông chính) vào đến thửa đất cần xác định giá”; Theo bản Trích lục và đo chỉnh lý khu đất bản đồ địa chính số 6502/2019 được Văn phòng đăng ký đất đất đai tỉnh Đồng Nai ký xác nhận ngày 19/9/2019; Ngày 13/11/2019, Văn phòng đăng ký đất đất đai tỉnh Đồng Nai - chi nhánh T7 có Văn bản số 3895/VPĐK.ĐKTK xác định vị trí thửa đất số 190 tờ bản đồ số 43, bản đồ địa chính xã L 25 của hộ ông Hoàng Văn C là đất nông nghiệp (đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm) vị trí 4 (với mức giá bồi thường 335.000 đồng/m²); không đủ điều kiện xác định là vị trí 2 như khiếu nại của người khởi kiện.
[2.2.3] Về khiếu nại yêu cầu áp giá tính bồi thường mục đích sử dụng đất tại thửa 190, tờ bản đồ số 43 của ông C là đất ở và đất trồng cây lâu năm.
Theo giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà, vật kiến trúc và hộ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư số 82/GXN-UBND ngày 04/11/2019 do UBND xã L 25 thực hiện được các cơ quan chức năng của huyện thẩm tra nội dung xác định: diện tích 9890,8m² đất của ông Hoàng Văn C đang quản lý, sử dụng, đã được UBND huyện L cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 286026 ngày 19/6/1997, số K 303848 ngày 02/5/1997, K 283156 ngày 19/6/1997 thuộc thửa 39, 40 tờ 2B; và 01 phần thửa 108 tờ 8C BĐĐC xã Sông Nhạn thể hiện mục đích sử dụng đất là đất lúa và đất trồng cây lâu năm. Mặc dù trên đất thu hồi có nhà C4H2 xây dựng năm 1999, một số tài sản vật kiến trúc khác, nhiều vật kiến trúc phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt xây dựng trước ngày 01/7/2004 nhưng xây dựng trên đất nông nghiệp không đúng mục đích như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp nên không có cơ sở để xem xét bồi thường theo giá đất ở trong hạn mức mà chỉ được xem xét hỗ trợ về tài sản trên đất theo quy định tại Điều 103 Luật đất đai năm 2013.
Ngoài ra, mặc dù diện tích đất thu hồi của ông Hoàng Văn C không được xác định là đất ở nhưng UBND huyện T cũng đã xác định hộ gia đình ông C bị thu hồi hết nhà ở, không có đất ở, nhà ở nào khác tại địa bàn xã L (nơi có đất bị thu hồi) nên thuộc đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 6, Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và khoản 3 Điều 4; điểm a, điểm c, khoản 1 Điều 14, điểm a, khoản 1 Điều 15; khoản 5 Điều 28 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ban hành kèm theo quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ để giải quyết chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bằng 02 lô đất tái định cư cho gia đình ông C là đã đảm bảo quyền lợi của ông C.
Trên cơ sở xác định vị trí đất, loại đất, ngày 27/12/2019, UBND huyện T ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 6969/QĐ-UBND cho ông Hoàng Văn C khi thu hồi thửa đất số 190 tờ bản đồ số 43, bản đồ địa chính xã L để thực hiện Dự án Cao tốc P - D theo giá đất nông nghiệp vị trí 4 với tổng số tiền 5.125.410.808 đồng là đúng quy định.
Đồng thời, ngày 21/02/2022, UBND tỉnh Đ ban hành Văn bản số 1729/UBND-KTNS về việc xử lý vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ theo đó: Mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp tăng thêm 0,5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại theo Bảng giá đất của UBND tỉnh Đ và tăng tiền bồi thường, hỗ trợ cho những thửa đất tiếp giáp đường gom dân sinh. Ngày 13/07/2022, UBND huyện T ban hành quyết định số 2499/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện Dự án Cao tốc P - D trong đó đã hỗ trợ, bổ sung cho ông Hoàng Văn C số tiền 548.944.950 đồng gồm: bồi thường bổ sung về đất đối với vị trí đất tiếp giáp đường gom cao tốc là: 326.399.700 đồng và hỗ trợ bổ sung về việc chuyển đổi nghề nghiệp thêm 0,5 lần với số tiền là: 222.545.250 đồng. Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Văn C đã được xem xét thỏa đáng.
[2.2.4] Đối với nội dung các văn bản trả lời đơn đề nghị của người khởi kiện.
Như đã phân tích ở trên thì Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ và Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông Hoàng Văn C được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và nội dung theo quy định. Do đó, các văn bản trả lời đơn đề nghị của ông Hoàng Văn C được ban hành cũng đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông C.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hoàng Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
[3] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Người khởi kiện ông Hoàng Văn C phải chịu do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận; tuy nhiên, ông C là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho ông C theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bác kháng cáo của ông Hoàng Văn C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020 đoạn qua địa bàn huyện T và Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020 đoạn qua địa bàn huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Án phí hành chính phúc thẩm: ông Hoàng Văn C không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hòa Hiệp |
Bản án số 356/2024/HC-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định về bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất
- Số bản án: 356/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định về bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: n cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bác kháng cáo của ông Hoàng Văn C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Tuyên xử: 1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 6960/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020 đoạn qua địa bàn huyện T và Quyết định số 2499/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020 đoạn qua địa bàn huyện T, tỉnh Đồng Nai. 2. Án phí hành chính phúc thẩm: ông Hoàng Văn C không phải chịu. 3. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
