|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:355/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/12/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ.
Ông Nguyễn Đại Đồng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 312/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:147/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 152/2023/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Trần Thị Huyền N, sinh năm 1999, Có mặt.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
+ Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1999, Vắng mặt.
Hộ khẩu thường trú: xóm A, thôn Đ, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Trần Thị Huyền N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tuấn H lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 18/5/2020 tại UBND xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về ở cùng nhà với mẹ chồng là bà Đàm Thị V và bà nội là Nguyễn Thị N1 tại xóm A, thôn Đ, xã Đ, huyện M, Hà Nội. Ngay từ ban đầu cuộc sống vợ chồng đã không hạnh phúc do anh H không chịu làm ăn, thường xuyên cờ bạc nên dẫn đến vợ chồng cãi vã lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là đến tháng 5 năm 2023 chị không chịu được cuộc sống chung của vợ chồng nên đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại thôn H, xã H, huyện M, Hà Nội ở từ đó đến nay. Nay tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi và không còn liên quan đến nhau nữa nên chị xin được ly hôn anh Nguyễn Tuấn H.
- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Tuấn H có 01 con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019, con khoẻ mạnh hiện nay đang ở với cụ nội Nguyễn Thị N1, do anh H đi làm ở ngoài nội thành Hà Nội không trực tiếp nuôi con. Gia đình H không cho chị đón con về để nuôi và chăm sóc. Nay ly hôn để đảm bảo quyền lợi được nuôi và chăm sóc con nên chị đề nghị xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Về điều kiện kinh tế từ trước đến nay chị vẫn nuôi dưỡng và chu cấp để nuôi con. Anh H không đóng góp gì để nuôi con và hiện nay không có việc làm đang ở nhà với cụ N1, sau đó thỉnh thoảng lại đi đâu không rõ. Còn chị làm việc tại sân G tại huyện C, Hà Nội thu thập bình quân 15 triệu đồng/tháng và có chỗ ở ổn định đảm bảo điều kiện để được nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Tuấn H toà án triệu tập nhưng không đến toà án làm việc và không cung cấp bản tự khai:
Toà án tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị N1 là bà nội và sinh sống cùng anh Nguyễn Tuấn H trình bày: Anh Nguyễn Tuấn H là cháu nội và chị Trần Thị Huyền N là cháu dâu của bà. Anh H và chị N là vợ chồng tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn năm 2020. Sau khi kết hôn chị N về gia đình nhà bà làm dâu và cùng chung sống, thời gian đầu tình cảm hai vợ chồng còn hoà thuận nhưng đến khoảng năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hoà hợp, xảy ra cãi nhau. Từ tháng 6 năm 2023 chị N tự ý bỏ nhà bà đi, dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Nay chị N xin ly hôn, do anh H đang bận công việc không đến toà án làm việc được. Bà đã giao toàn bộ văn bản tố tụng của toà án cho anh H. Anh H có thông tin lại để bà trình bày với toà án về nguyện vọng của anh H nếu chị N cương quyết ly hôn thì anh H nhất trí với yêu cầu ly hôn của chị N.
Về con chung: anh H và chị N có 01 con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019 hiện nay đang ở với bà và anh H. Trường hợp vợ chồng phải ly hôn thì anh H xin nuôi con chung là Nguyễn Việt A và không yêu cầu chị N phải đóng góp nuôi con. Về tài sản chung và công sức, nợ chung: Anh H và chị N không có.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị N có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh H vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị N đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và có mặt tại phiên toà. Bị đơn anh H không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ 2.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Huyền Ngọc x cho chị Trần Thị Huyền N được ly hôn anh Nguyễn Tuấn H.
- Về con chung đề nghị: Áp dụng Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Giao con chung Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019 cho chị Trần Thị Huyền N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện chị N không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung và nợ chung: do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Trần Thị Huyền N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Trần Thị Huyền N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Tuấn H nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Tuấn H có hộ khẩu tại: thôn Đ, xã Đ, huyện M, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Tuấn H đã được toà án triệu tập và tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai không có lý do. Nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để xét xử vắng mặt đối với bị đơn Nguyễn Tuấn H.
Về nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Huyền N và anh Nguyễn Tuấn H được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện M vào ngày 18/5/2020 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Tuấn H được toà án triệu tập và gửi văn bản tố tụng đến bà Nguyễn Thị N1 là bà nội, sinh sống cùng anh H nhưng anh không đến toà án. Bà N1 trình bày anh H có quan điểm để bà trình bày lại với Toà án do anh bận công việc nên không đến toà án làm việc được, trường hợp chị N cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị N. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị N và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về con chung: Chị Trần Thị Huyền N và anh Nguyễn Tuấn H có 01 con chung là cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019.
Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, Hội đồng xét xử thấy: Chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng con Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019 và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H vắng mặt không có bản từ khai nhưng qua ý kiến của bà N1 thể hiện anh mong muốn được nuôi con và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị H1 và anh H có 01 con chung, ly hôn phải giao con cho một người trực tiếp nuôi dưỡng. Theo biên bản xác minh tại thôn Đ và UBND xã Đ cung cấp: con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019 hiện nay đang ở với cụ nội Nguyễn Thị N1 tại đại chỉ trên (còn bà Đàm Thị V đi làm ở Hà Nội); anh H đi làm ở Hà Nội thỉnh thoảng mới về nhà, đến thời điểm hiện nay anh H đang ở nhà. Còn chị N do gia đình nhà chồng không cho đón con. Theo xác nhận thông tin về cư trú của công an xã H: cháu Nguyễn Việt A có hộ khẩu thường trú cùng với chị Trần Thị Huyền N tại thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Về điều kiện để nuôi con chị N xuất trình Giấy xác nhận làm việc của Công ty cổ phần D xác nhận chị N làm việc tại Công ty từ ngày 21/7/2020 đến nay ở vị trí nhân viên Caddie tổng thu nhập 15.000.000đồng/tháng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức. Theo đó giao con Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác nhận không có và không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Nguyên đơn chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Huyền N đối với anh Nguyễn Tuấn H.
- Về con chung: Xác nhận chị Trần Thị Huyền N và anh Nguyễn Tuấn H có 01 con chung là cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Huyền N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007554 ngày 14/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị N có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử chị Trần Thị Huyền N được ly hôn anh Nguyễn Tuấn H.
Giao con chung Nguyễn Việt A, sinh ngày 04/9/2019 cho chị Trần Thị Huyền N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H đến khi có quyết định thay đổi khác.
Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Cường |
Bản án số 355/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 355/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ngọc xin ly hôn anh Hùng
