|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 355/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lâm Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đệ.
Bà Ngô Thị Yêm.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Hùng– Cán bộ Toà án nhân dân huyện A.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Doãn Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 26/7/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện A, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 263/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2024 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm C, thôn PT, xã ML, huyện A, TP. Hà Nội.
Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng M, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm C, thôn PT, xã ML, huyện A, TP. Hà Nội.
Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vắng mặt: Anh M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Hùng M ngày 15/10/2020 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện A, TP. Hà Nội. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng về chung sống tại thôn PT, xã ML, huyện A, TP. Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng sống hòa thuận đến khoảng tháng 8 năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau trong nhiều vấn đề. Anh M không những không quan tâm, không có trách nhiệm với gia đình mà còn chơi bời, cờ bạc... dẫn đến nợ nần, cầm cố tài sản của gia đình, khi về nhà còn đánh đập, chửi mắng chị. Nhiều lần “xã hội đen” đến tận nhà để đòi nợ và chị đã phải đứng ra trả nợ thay. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8 năm 2023, hai bên không có trách nhiệm với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục, thời gian ly thân đã lâu nên yêu cầu được ly hôn với anh M.
- Về con chung: Chị cam kết và xác định vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung: Chị xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Hùng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên những quan điểm, yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn anh Nguyễn Hùng M tiếp tục không có mặt nên không có ý kiến.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A về việc giải quyết vụ án:
+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Nguyễn Hùng M.
+ Về con chung: Không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
+ Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
+ Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Hùng M có nơi cư trú tại địa bàn huyện A, TP. Hà Nội. Như vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện A, TP. Hà Nội theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với tất cả các đương sự theo thủ tục chung quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Hùng M tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 15/10/2020 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2020 của tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện A, TP. Hà Nội nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:
Về quá trình chung sống và mâu thuẫn: Qua lời khai của đương sự và xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị sinh sống thể hiện: Sau khi đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới, chị T, anh M về chung sống tại thôn PT, xã ML, huyện A, TP. Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng hơn 01 năm trở lại đây thì xảy ra những mâu thuẫn, xích mích. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau trong nhiều vấn đề, không có con chung, kinh tế khó khăn. Anh M không có trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình, cờ bạc dẫn đến nợ nần, phá tán tài sản gia đình. Vợ chồng đã ly thân được khoảng gần 02 năm nay, chị T chuyển ra ngoài ở, hai bên không có trách nhiệm với nhau.
Chính quyền địa phương có quan điểm đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật và nguyện vọng của các bên để giải quyết.
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án này, anh Nguyễn Hùng M đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án làm việc nên không thể tổ chức được phiên hòa giải cho các đương sự. Điều đó chứng tỏ anh M không có thiện chí trong việc giải quyết vụ án ly hôn này và không có biện pháp nào để cải thiện quan hệ vợ chồng. Tuy vậy, Tòa án vẫn kiên trì nhiều lần làm việc với chị Nguyễn Thị Thanh T để hòa giải, phân tích cho vợ chồng có cơ hội đoàn tụ nhưng chị T vẫn cương quyết giữ quan điểm xin ly hôn.
Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở xác định thời gian ly thân của chị T, anh M đã lâu, không có căn cứ để xác định giữa hai bên có còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau hay không; Nguyên nhân mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không thể hàn gắn nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Nguyễn Hùng M để các bên ổn định cuộc sống riêng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
[4]Về con chung: Không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh M vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng nên không có quan điểm. Do đó, Tòa án không đưa ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 203, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Nguyễn Hùng M. Chị T được ly hôn anh M.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2020, đăng ký ngày 15/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện A, TP. Hà Nội cấp cho chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Hùng M không còn giá trị pháp lý).
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 17423 ngày 05/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện A, TP. Hà Nội. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Lâm Bình |
4
Bản án số 355/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 355/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
