|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 355/2025/HS-ST Ngày: 29/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2025/QĐXXST–HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh năm: 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: A T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H1 và bà Võ Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án: - Bản án số 86/2014/HSST ngày 14/5/2014, Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2014; - Bản án số 194/2015/HSST ngày 26/11/2015, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2018; - Bản án số 383/2019/HSST ngày 12/11/2019, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/10/2021; tiền sự: không có; nhân thân: - Bản án số 97/HSST ngày 03/3/2003, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2004; - Bản án số 179/2008/HSST ngày 30/6/2008, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2009; - Bản án số 173/2022/HSST ngày 13/12/2022, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đang chấp hành án tại Trại giam X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; bị bắt, tạm giam ngày: 21/5/2022 trong vụ án khác (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Bà Lê Thị Tường V, sinh năm: 2005.
Địa chỉ: A đường số B, khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Vinh Q, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: H đường số E, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Do có quen biết nhau từ trước, khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/3/2022, đối tượng T (chưa rõ lai lịch) rủ Phạm Văn H đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, H đồng ý. H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 59V2-923.16 đến khu vực bến xe M gặp T và chở T đi qua nhiều tuyến đường khác nhau tìm người có tài sản sơ hở để lén lút chiếm đoạt.
Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô chở T đi trên đường số B P, thành phố T thì T phát hiện bà Lê Thị Tường V một mình điều khiển xe mô tô chạy phía trước, trong ngăn để đồ bên trái xe của bà V có để 01 điện thoại đi động hiệu Oppo F11 nên T chỉ cho H thấy và nói H tìm cách chiếm đoạt điện thoại của bà V. H đồng ý và điều khiển xe chạy vượt lên phía trước xe của bà V, cho xe chạy chậm rồi dừng lại tại trước nhà số A đường số B, phường P. Tại đây, T bước xuống xe và đi bộ ngược lại, tay T giả vờ chỉ về phía sau giống như đang cùng H đi tìm nhà người quen. Lúc này, bà V điều khiển xe chạy đến, H chủ động điều khiển xe vòng sang trái để bánh trước xe của H va chạm vào bên phải bánh sau của xe bà V. Sau khi xe của H va chạm, vướng vào xe của bà V, thấy bà V tập trung vào việc va chạm xe với H thì T đi lại, lén lút dùng tay lấy chiếc điện thoại của bà V trong ngăn để đồ, bỏ vào túi áo khoác, sau đó đi ngược lại phía sau xe bà V. H thấy T đã lấy được điện thoại nên chủ động đánh lái xe sang phải để bà V tiếp tục điều khiến xe chạy đi. Khi bà V điều khiển xe đi, H điều khiển xe vòng lại, chở T mang theo điện thoại chiếm đoạt được của bà V tẩu thoát.
Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, H điều khiển xe chở T quay về khu vực bến xe M cũ. Trên đường về, T lấy điện thoại đưa cho H cất giữ. H cầm điện thoại bỏ vào túi quần rồi tiếp tục chở T về. Khi đến trước cửa hàng M1, sửa chữa điện thoại tên “482” tại số D X, Phường B, quận B do ông Võ Vinh Q làm chủ, H dừng xe lại phía trước tiệm và đưa điện thoại đã chiếm đoạt được cho T, T vào trong bán được 1.000.000 đồng. Số tiền trên H và T chia nhau, mỗi người 500.000 đồng. Sau đó, H điều khiển xe mô tô chở T chạy về khu vực Bến xe M, T xuống xe đi về nhà, H điều khiển xe mô tô về nhà, số tiền được chia thì H tiêu xài hết.
Đến khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 09/3/2022, H điều khiển xe biển số 59V2-923.16 đang đi trên đường Q, phường H, thành phố T thì bị lực lượng Công an mời về làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Ông Võ Vinh Q khai vào ngày 07/3/2022, ông Q mua hai chiếc điện thoại cùng hiệu Oppo của hai khách hàng khác nhau mang đến bán. Trong đó, một khách nam không rõ lai lịch bán cho điện thoại Oppo A5S, khách còn lại là nữ bán điện thoại Oppo F11 Pro màu xanh. Hai chiếc điện thoại trên, ông Q mua với giá 1.000.000 đồng/chiếc. Riêng chiếc điện thoại Oppo F11 Pro, sau khi mua được 1, 2 ngày, có khách mua nên ông Q đã bán lại cho khách với giá 1.100.000 đồng. Do khi mua và bán điện thoại trên, ông Q không ghi lại thông tin khách hàng nên không biết thông tin, địa chỉ của người mua và người bán điện thoại. Ông Q không biết điện thoại trên do phạm tội mà có.
Kết luận định giá tài sản số 32-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 12/4/2022 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận: 01 Điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro 128Gb có giá trị là 1.700.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ biển số 59V2-923.16, thu giữ của Phạm Văn H. Qua xác minh, xe mô tô trên do bà Nguyễn Thị M là chủ sở hữu, bà M đã bán lại xe cho bà Võ Thị Thanh T1, là cháu của Phạm Văn H. Bà T1 cho H mượn xe làm phương tiện đi lại và chạy xe ôm kiếm thu nhập. Bà T1 không biết H sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho bà T1.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 và 01 điện thoại di động hiệu MI. Thu giữ của Phạm Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị Tường V không yêu cầu bồi thường đối với điện thoại bị mất trộm.
Tại Bản Cáo trạng số 155/CT-VKSTPTĐ ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử do đó, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Bị cáo Phạm Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo. Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù và tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù của Bản án số 173/2022/HSST ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Về xử lý vật chứng thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trước khi mở phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn H phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/3/2022, tại trước nhà số A đường số B, phường P, thành phố T, bị cáo Phạm Văn H và người phụ nữ tên T (không rõ lai lịch) dàn cảnh để xe mô tô do bị cáo H điều khiển va quẹt với xe mô tô của bà Lê Thị Tường V. Lợi dụng lúc bà V không chú ý, T lén lút lấy điện thoại di động hiệu Oppo F11 của bà V trong ngăn để đồ bên trái xe. Sau khi lấy được điện thoại, cả hai mang bán cho ông V1 Vinh Quang được 1.000.000 đồng và chia nhau tiêu xài. Ngày 09/3/2022, bị cáo đang điều khiển xe trên Quốc lộ A, phường H thì bị Công an phát hiện đưa về làm việc.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Theo kết luận định giá tài sản thì điện thoại di động hiệu Oppo F11 trị giá 1.700.000 đồng; bị cáo đã bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục vi phạm, do đó cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân rất xấu, liên tục thực hiện hành vi trộm cắp. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo tiếp tục phạm tội và ngày 13/12/2022, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 173/2022/HSST, bản án đã có hiệu lực pháp luật nên cần tổng hợp hình phạt để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với người phụ nữ tên T, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với Võ Vinh Q, khi mua điện thoại không biết điện thoại do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
[3]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- - Bị hại bà Lê Thị Tường V không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 điện thoại di động Iphone 6 và 01 điện thoại di động hiệu MI. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" của Bản án số 173/2022/HSST ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2022.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo:
- + 01 điện thoại di động Iphone 6.
- + 01 điện thoại di động hiệu MI.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 229C ngày 14/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 355/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 355/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội trộm cắp tài sản
