Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. V

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 355/2024/HS-ST

Ngày 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chương

Ông Lê Văn Khoe

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu H – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 324/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Trung H1, sinh năm 1992 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: số B, T, tổ F, khu phố G, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở trước khi bị bắt: số A đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Hoàng D và bà Nguyễn Thị Mỹ L;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 95/2009/HSST ngày 25/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xử phạt Trần Trung H1 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Bị cáo bị bắt ngày 03 tháng 6 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).

2. Lý Trần N, sinh năm 2002 tại Cần Thơ; Hộ khẩu thường trú: C, đường số A, phường T, Quận C, thành phố Cần Thơ; chỗ ở trước khi bị bắt: số A đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lý Trung N1 và bà Nguyễn Ngọc K;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 03 tháng 6 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trước địa chỉ số B đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang Lý Trần N, Trần Trung H1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Ketamine) để bán cho người nghiện ma túy, đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 5/2024, bà Nguyễn Phạm Ngọc H2 (Sinh năm 1986; Thường trú tại: số A đường B, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cho vợ chồng ông H4, bà L1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê căn nhà một trệt, một lầu tại địa chỉ số A đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để sinh sống. Sau đó, H4 đã cho Lý Trần N và Trần Trung H1 thuê ở cùng, vợ chồng H4 ở một phòng trên lầu, H1 ở một phòng phía đối diện phòng vợ chồng H4, N ở một phòng tầng trệt, nhưng thực tế vợ chồng H4 ít khi ở nhà thuê này.

Quá trình sinh sống tại nhà số A đường X, phường T, thành phố V, H4 rủ H1 đi giao ma túy cho H4 để hưởng 200.000 đồng cho mỗi lần giao ma túy thì được H1 đồng ý. Vào ngày 30/5/2024, H4 đưa cho H1 01 (một) gói ma túy khay và nói H1 đi giao cho đối tượng không rõ thông tin tại khu vực Karaoke 88 trên đường T, thành phố V theo sự hướng dẫn của H4 và sau khi giao ma túy H1 đã được H4 trừ 200.000 đồng vào tiền thuê nhà. Cũng trong cuối tháng 5/2024, H4 đã đưa thêm cho H1 02 (hai) gói ma túy khay để H1 tự tìm khách bán, H4 hứa hẹn mỗi lần bán được ma túy sẽ trả cho H1 200.000 đồng tiền công. Ngày 02 tháng 6 năm 2024, H1 đưa cho N 01 (một) gói ma túy khay để nhờ N tìm khách bán ma túy giúp và hứa sẽ chia tiền công cho N, 01 (một) gói ma túy khay còn lại được H1 cất giữ trong phòng ngủ của H1 (số ma túy này N không biết).

Khoảng 21 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2024, H1 nhận được cuộc gọi qua ứng dụng zalo từ đối tượng có tên N1 (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 01 (một) hộp năm ma túy khay. Sau đó, H1 nhờ N gọi điện thoại cho H4 thông báo về việc có khách hỏi mua ma túy, hỏi H4 có ma túy không, giá bán như thế nào, đồng thời H1 cũng rủ N cùng đi bán ma túy với H1 để chia tiền công. N đã gọi điện thoại cho H4 qua ứng dụng Messenger và được H4 chỉ chỗ cất ma túy trên phòng ngủ của H4, H4 đồng ý để cho H1 và Ngọc chiết ma túy ra để bán cho khách, số ma túy còn lại H4 cho phép để H1 và N cất giữ và tìm khách bán, H4 báo giá một hộp năm ma túy khay là 4.400.000 đồng. Với giá bán như trên, N1 đã đồng ý và hẹn giao ma túy tại khu chung cư T địa chỉ số B đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. H1 và N đi lên phòng ngủ của H4 và tìm thấy 02 (hai) gói ma túy khay, 01 (một) cân tiểu ly và nhiều gói ny lông màu đen (bên trong không chứa gì). H1 đã hướng dẫn Ngọc cân ma túy và chiết ra thêm được 01 (một) gói ma túy khay. Sau khi chiết ma túy xong, cả hai di chuyển xuống dưới lầu, N mang theo toàn bộ số ma túy, cân tiểu ly và các gói ny lông màu đen đặt trên bàn phòng khách lầu trệt. N mang theo người 01 (một) gói ma túy khay (A1) mới chiết ra được, dùng xe mô tô Honda Vario biển số 72C2-037.21 chở H1 đến điểm hẹn giao ma túy cho N1. Khi cả hai đang đợi N1 đến lấy ma túy tại trước địa chỉ số B đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì đã bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ của Lý Trần N và Trần Trung H1 tại địa chỉ số A đường X, phường T, thành phố V, phát hiện thu giữ: 01 (một) gói ma túy khay (A) tại phòng ngủ của Trần Trung H1; 01 (một) gói ma túy khay (A1) tại phòng ngủ của N; 02 (hai) gói ma túy khay (A2), 01 (một) cân tiểu ly, 20 (hai mươi) gói ny lông tại phòng khách.

Quá trình điều tra, Trần Trung H1, Lý Trần N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của hai bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục điều tra số 12,13), phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Phạm Đức D1 (sinh năm 1954; trú tại: số G đường V, phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) (bút lục điều tra số 129), biên bản khám xét (bút lục điều tra số 167,168) phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1963, trú tại: số B đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (bút lục điều tra số 131) và phù hợp với chứng cứ thu thập được.

* Tại bản Kết luận giám định số 329/KL-KTHS-MT ngày 07/6/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B, xác định:

  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường T – Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Trần Tiến D2, Lý Trần N, “Trần Trung H1”, Phạm Đức D1, Nguyễn Minh T, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A1- thu giữ khi bắt quả tang), có khối lượng là 3,4022 gam, là ma túy loại Ketamine;
  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 02), có hình dấu của Công an phường T – Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Nguyễn Văn K1, “Trần Trung Hl”, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Minh T, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A2 - thu giữ tại phòng H1), có khối lượng là 0,5421 gam, là ma túy loại Ketamine;
  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 03), có hình dấu của Công an phường T – Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Nguyễn Văn K1, Lý Trần N, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Minh T, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A3 - thu giữ tại phòng N là số ma túy H1 đưa cho N vào ngày 02 tháng 6 năm 2024), có khối lượng là 0,3910 gam, là ma túy loại Ketamine;
  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 04), có hình dấu của Công an phường T - Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Nguyễn Văn K1, Lý Trần N, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Minh T, bên trong có 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A4 - tại phòng khách), có khối lượng là nặng 2,8280 gam, là ma túy loại Ketamine.

* Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường T an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Trần Tiến D2, Lý Trần N, “Trần Trung H1”, Phạm Đức D1, Nguyễn Minh T, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A1), có khối lượng là 3,4022 gam, là ma túy loại Ketamine; (thu giữ khi bắt quả tang).
  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 02), có hình dấu của Công an phường T - Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Nguyễn Văn K1, “Trần Trung Hl”, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Minh T, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A2), có khối lượng là 0,5421 gam, là ma túy loại Ketamine; (thu giữ tại phòng H1).
  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 03), có hình dấu của Công an phường T - Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Nguyễn Văn K1, Lý Trần N, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Minh T, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A3), có khối lượng là 0,3910 gam, là ma túy loại Ketamine; (thu giữ tại phòng của N, là số ma túy H1 đưa cho N vào ngày 02 tháng 6 năm 2024 để kiếm khách bán).
  • - 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 04), có hình dấu của Công an phường T - Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Lê Văn K2, Nguyễn Văn K1, Lý Trần N, Nguyễn Minh T1, Nguyễn Minh T, bên trong có 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A4), có khối lượng là nặng 2,8280 gam, là ma túy loại Ketamine.(thu giữ tại phòng khách).

(Sau khi giám định, số ma túy trên được niêm phong tại 04 phong bì niêm phong số 329/1, 329/2, 329/3, 329/4 ngày 07/06/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B)

  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, Imei: 359456495905433 đã qua sử dụng: là điện thoại của N, được N sử dụng để liên hệ với H4 thông báo về việc N1 hỏi mua ma túy vào ngày 03/06/2024;
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, Imei: 353899100847332 đã qua sử dụng: là điện thoại của H1, được H1 sử dụng để liên hệ với N1 trao đổi về việc mua bán ma túy vào ngày 03/06/2024;
  • - 01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng;
  • - 20 (hai mươi) gói ny lông màu đen (bên trong không chứa gì).

Toàn bộ số vật chứng và tài sản trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Vario biển số 72C2-037.21, số máy: KF11E2460113, số khung: MH1KF1123JK467488 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Đức H3 (Sinh năm: 1968; Địa chỉ: B đường T, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đứng tên chủ sở hữu, ông H3 cho con trai tên Nguyễn Đức H4 (Địa chỉ: B đường T, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) chiếc xe Honda Vario trên. Ngày 18/02/2024, ông H4 tiến hành đổi xe Honda Vario trên lấy chiếc xe khác cho ông Ngô Chí T2 là chủ Cửa hàng xe máy Bảo Thanh tại địa chỉ số C đường T, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 23/04/2024, chị Lù Thị T3 (sinh năm 2003; trú tại: số A đường C, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; là bạn gái của N) đã chuyển tiền và nhờ Lý Trần N đến cửa hàng xe máy Bảo Thanh 2 tại địa chỉ số B đường T, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để mua xe Honda Vario trên. (Bút lục điều tra số 136-149). Chị T3 bị ốm nên cho Lý Trần N sử dụng chiếc xe và không biết việc N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại chiếc xe trên cho chị T3.

Bản cáo trạng số 311/CT-VKS ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Lý Trần N và bị cáo Trần Trung H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lý Trần N và bị cáo Trần Trung H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Trung H1 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Trần N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án có trong 04 (bốn) phong bì niêm phong số 329/1, 329/2, 329/3, 329/4 ngày 07/06/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B; 01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng và 20 (hai mươi) gói ny lông màu đen (bên trong không chứa gì) do không còn giá trị sử dụng.
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, là điện thoại của bị cáo N, được N sử dụng để liên hệ với H4 thông báo về việc N1 hỏi mua ma túy vào ngày 03/06/2024; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, là điện thoại của H1, được H1 sử dụng để liên hệ với N1 trao đổi về việc mua bán ma túy vào ngày 03/06/2024, do liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo Lý Trần N và bị cáo Trần Trung H1 đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Khi nói lời sau cùng, bị cáo thể hiện ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Trần N và bị cáo Trần Trung H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trước địa chỉ số B, đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lý Trần N và Trần Trung H1 bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 3,4022 gam, là ma túy loại Ketamine (A1) với mục đích để bán cho người nghiện ma túy.

Đồng thời, qua khám xét tại chỗ ở của Lý Trần N, Trần Trung H1 tại nhà số A đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phát hiện, thu giữ lượng ma túy gồm: tại phòng ngủ của Trần Trung H1 khối lượng 0,5421gam, là ma túy loại Ketamine (A2), tại phòng ngủ của Lý Trần N khối lượng 0,3910 gam, là ma túy loại Ketamine (A3), tại phòng khách khối lượng 2,8280 gam, là ma túy loại Ketamine (A4). N, H1 tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người nghiện ma túy.

Như vậy, Trần Trung H1 tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán cho người nghiện có khối lượng là 7,1633 gam là ma túy loại Ketamine (mẫu A1+A2+A3+A4). Lý Trần Ngọc tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán cho người nghiện có khối lượng là 6,6212 gam là ma túy loại Ketamine (mẫu A1+A3+A4).

Hành vi của bị cáo Lý Trần N và bị cáo Trần Trung H1 đã thực hiện như trên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo sử dụng ma túy, không xác định được thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm; đã xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; góp phần tạo ra mầm mống của những tệ nạn xã hội và tội phạm. Bị cáo H1 có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng sau khi chấp hành án trở về địa phương, bị cáo không lo tu chí làm ăn mà còn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý và tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung về tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án có trong 04 (bốn) phong bì niêm phong số 329/1, 329/2, 329/3, 329/4 ngày 07/06/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B; 01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng và 20 (hai mươi) gói ny lông màu đen (bên trong không chứa gì) do không còn giá trị sử dụng.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, là điện thoại của bị cáo N, được N sử dụng để liên hệ với H4 thông báo về việc N1 hỏi mua ma túy vào ngày 03/06/2024; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, là điện thoại của H1, được H1 sử dụng để liên hệ với N1 trao đổi về việc mua bán ma túy vào ngày 03/06/2024, do liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Vario biển số 72C2-037.21, số máy: KF11E2460113, số khung: MH1KF1123JK467488 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Đức H3 (Sinh năm 1968; Địa chỉ: B đường T, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đứng tên chủ sở hữu, ông H3 cho con trai tên Nguyễn Đức H4 (Địa chỉ: B đường T, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) chiếc xe Honda Vario trên. Ngày 18/02/2024, ông H4 tiến hành đổi xe Honda Vario trên lấy chiếc xe khác cho ông Ngô Chí T2 là chủ Cửa hàng xe máy Bảo Thanh tại địa chỉ số C đường T, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 23/04/2024, chị Lù Thị T3 (sinh năm 2003; trú tại: số A đường C, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; là bạn gái của N) đã chuyển tiền và nhờ Lý Trần N đến cửa hàng xe máy Bảo Thanh 2 tại địa chỉ số B đường T, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để mua xe Honda Vario trên. Chị T3 bị ốm nên cho Lý Trần N sử dụng chiếc xe nên không biết việc N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại chiếc xe trên cho chị T3 là phù hợp với quy định.

[6] Đối với những vấn đề liên quan khác:

Về tính chất đồng phạm: Bị cáo Trần Trung H1 và bị cáo Lý Trần Ngọc C cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự bàn bạc chặt chẽ, không có người cầm đầu nên chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Đối với hành vi của Trần Trung H1 khai nhận: Vào khoảng cuối tháng 5/2024, H1 giao ma túy cho khách theo hướng dẫn của H4 và được H4 trừ 200.000 đồng tiền thuê nhà, ngoài lời khai của H1 không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định lời khai này của H1, vì vậy chưa đủ căn cứ xem xét xử lý đối với H1 về hành vi này.

Đối với bà Nguyễn Phạm Ngọc H2 chủ căn nhà tại địa chỉ số A đường X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, khi cho H4 thuê nhà và khi H1, N ở không biết các đối tượng này tàng trữ ma túy nên không xem xét xử lý hình sự đối với bà H2.

Đối với người đàn ông tên H4 sử dụng số điện thoại 0567.095.xxx là người cung cấp ma túy cho H1 và N Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã có công văn gửi Công ty Cổ phần V hiện chưa có kết quả và người tên Nghĩa là người liên hệ để mua ma túy là những đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ xử lý sau theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Trần N và Trần Trung H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

1.1. Đối với bị cáo Lý Trần N:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lý Trần N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 03 tháng 6 năm 2024.

1.2. Đối với bị cáo Trần Trung H1:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Trung H1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 03 tháng 6 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án có trong 04 (bốn) phong bì niêm phong số 329/1, 329/2, 329/3, 329/4 ngày 07/06/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B; 01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng và 20 (hai mươi) gói ny lông màu đen (bên trong không chứa gì).
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, Imei: 359456495905433 và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, I.

Vật chứng và tài sản nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/BB-CCTHADS ngày 09 tháng 10 năm 2024.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lý Trần N và bị cáo Trần Trung H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lý Trần N và bị cáo Trần Trung H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PC10, PV 06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND Tp.V;
  • - Công An Tp.V;
  • - Chi cục THADS Tp.V;
  • - Bị cáo.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thường

10

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 355/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 355/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Lý Trân N 02 năm tù; xử phạt Trần Trung H 02 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger