Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 355/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 12 -2023

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và

Gia đình.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân ThànhBà Hồ Thị Thanh Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 306/2023/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Đinh Thị N, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  • Bị đơn: Anh Hoàng Nghĩa L, sinh năm 1997; Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Cộng hòa liên bang Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Đinh Thị N trình bày:

Chị và anh Hoàng Nghĩa L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An ngày 15/8/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được hai con chung. Tháng 12/2019 anh L đi làm ăn tại nước R, sau đó sang Cộng hòa Liên Bang Đ. Sau khi anh L ra nước ngoài một thời gian thì xẩy ra việc cãi cọ lẫn nhau qua các lần gọi điện thoại. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thiếu tin tưởng lẫn nhau. Từ năm 2022 anh lợi cắt đứt mọi liên lạc không có trách nhiệm gì với vợ con. Hiện nay, chị xét thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau và không quan tâm lẫn nhau, cuộc sống xa cách mỗi người một nơi. Nên chị làm đơn xin ly hôn với anh Hoàng Nghĩa L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Hoàng Gia A, sinh ngày 10/12/2017 và Hoàng Gia N1, sinh ngày 27/11/2019. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh Hoàng Nghĩa L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do bận công việc nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị.

Về phía anh Hoàng Nghĩa L: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu anh L có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh L theo thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại anh Hoàng Nghĩa L vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu ông Hoàng Nghĩa H và bà Nguyễn Thị T (bố, mẹ của anh L) cung cấp địa chỉ của anh L tại nước ngoài. Theo trình bày của bố mẹ anh L thì hiện tại anh L đang sinh sống tại Cộng hòa Liên Bang Đ, có điện thoại về cho gia đình nhưng do anh L sinh sống bất hợp pháp nên không có địa chỉ cố định nên anh L không cung cấp địa chỉ cho vợ chồng ông, bà; Ông, bà đã thông báo cho anh L đã biết việc chị N làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, anh L có gọi điện về trao đổi về việc chị N làm đơn xin ly hôn. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật, nếu ly hôn chị N tự chịu trách nhiệm nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

  • - Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Theo Công văn của Cục Q, Bộ C thì anh Hoàng Nghĩa L có thông tin xuất cảnh và hiện chưa có thông tin nhập cảnh nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

  • - Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

  • - Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, theo trình bày của ông Hoàng Nghĩa H và bà Nguyễn Thị T (bố, mẹ của anh L) thì anh L thường xuyên gọi điện thoại và ông bà đã thông báo việc chị N xin ly hôn và yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp địa chỉ nhưng anh L không cung cấp địa chỉ cụ thể, anh L đồng ý ly hôn và giao con cho chị N nuôi dưỡng. Tòa án đã niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại nơi cư trú cuối cùng của anh lợi ở Việt Nam theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung khởi kiện của chị N; Đề nghị cho chị N được ly hôn anh L

  • - Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Gia A, sinh ngày 10/12/2017 và cháu Hoàng Gia N1 sinh ngày 27/11/2019 xét hiện nay hai cháu đang ở với chị N và anh L đang ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể, nên để đảm bảo quyền lợi cho các cháu. Đề nghị giao hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

  • - Về cấp dưỡng nuôi con do chị Đinh Thị N không yêu cầu, anh Hoàng Nghĩa L chưa có ý kiến nên chưa xem xét.

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thẩm quyền: Căn cứ kết quả trả lời của Cục Q thì anh Hoàng Nghĩa L, sinh ngày 13/4/1997 tại Nghệ An, CMND số [...], khai hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, đã sử dụng hộ chiếu số C7147427 để xuất cảnh ngày 04/12/2019 qua cửa khẩu N2, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

    Do anh L trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An và hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, theo trình bày của ông Hoàng Nghĩa H và bà Nguyễn Thị T (bố, mẹ của anh L) thì anh L hiện đang lao động ở Cộng hòa Liên Bang Đ, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể ; anh L đã biết việc chị N làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, nhưng anh L không có ý kiến gì và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến ngày xét xử vụ án anh L không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy, anh L đã biết được chị N yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  3. [2] Về nội dung: Chị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Hoàng Nghĩa L. Xét thấy, chị Đinh Thị N và anh Hoàng Nghĩa L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/8/2017 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau, thiếu tin tưởng lẫn nhau, chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn để duy trì cuộc sống hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị Đinh Thị N được ly hôn anh Hoàng Nghĩa L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

  4. [3] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung cháu Hoàng Gia A, sinh ngày 10/12/2017 và cháu Hoàng Gia N1 sinh ngày 27/11/2019, ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng,hiện nay, anh L đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chưa có ý kiến. Chị Đinh Thị N đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao 02 con chung cháu Hoàng Gia A, sinh ngày 10/12/2017 và cháu Hoàng Gia N1 sinh ngày 27/11/2019 cho chị Đinh Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con, phù hợp nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Dành quyền khởi kiện đòi lại quyền nuôi con sau khi ly hôn cho anh L.

  5. [4] Về cấp dưỡng: Chị Đinh Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các dương sự khi có yêu cầu.

  6. [5] Tài sản chung và nợ chung: Chị Đinh Thị N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

  7. [6] Về án phí: Chị Đinh Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. 1. Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị N được ly hôn với anh Hoàng Nghĩa L.

  2. 2. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung cháu Hoàng Gia A, sinh ngày 10/12/2017 và cháu Hoàng Gia N1 sinh ngày 27/11/2019 cho chị Đinh Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Chị Đinh Thị N không yêu cầu anh Hoàng Nghĩa L cấp dưỡng nuôi con. Nên Tòa án không xem xét. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

  4. 4. Về án phí: Chị Đinh Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004453 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

  5. 5. Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Hoàng Nghĩa L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;

  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;

  • - UBND xã Hưng Trung, huyện Hưng

  • Nguyên, tỉnh Nghệ An;

  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hải Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 355/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 355/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger